Home / VĂN HÓA DI SẢN / 01.9.1858

01.9.1858

Tại sao lịch sử lại chọn Đà Nẵng làm mảnh đất đầu tiên của Tổ quốc đúng 160 năm trước, xáp mặt với những hải đoàn thiện chiến của thực dân Pháp; và rồi hơn 120 năm sau đó, những gót giày của đoàn lính viễn chinh Mỹ đầu tiên cũng đã lại dẫm lên trên những bãi cát của thành phố biển này? Đất nước ta có bao nhiêu là cửa biển, bao nhiêu là bến sông mà vị thế của chúng đã góp phần làm nên những chiến công trong lịch sử chống ngoại xâm. Nhưng giải thích thế nào về việc lịch sử đã trao cho Đà Nẵng lần đầu thử lửa với những khẩu đại pháo và những chiến thuyền mang hiểm họa từ bên kia đại dương tràn tới? Sử học đã và sẽ còn tiếp tục tìm lời giải đáp cho câu hỏi ấy… Nhân Kỷ niệm 160 năm ngày Pháp đánh vào Đà Nẵng, Đô thị & Phát triển xin được lược trích và tổng hợp từ các nguồn nhằm nhắc nhở con cháu chúng ta luôn tưởng nhớ những chiến công hiển hách của cha ông trong công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc và luôn cảnh giác trước những thế lực ngoại bang.

68380008

Tây lại Cửa Hàn

Năm 1812 Napoleon I ra lệnh cho nghiên cứu lại Hiệp ước Verseille (1787)(1) để tìm cớ can thiệp vào Việt Nam. Năm 1818 Louis XVIII cử phái đoàn sang Việt Nam yêu cầu Gia Long nhượng cho Pháp cửa biển Đà Nẵng và đảo Côn Lôn.

Năm 1822, 1825 Pháp đem tàu chiến vào Đà Nẵng đòi triều đình Huế thả giáo sĩ bị bắt, đòi tự do buôn bán.

Năm 1845, hai lần tàu chiến Pháp thị uy ở cửa biển Đà Nẵng. Năm 1847, tàu chiến của chúng lại liên tiếp tới khiêu khích Việt Nam.

Tháng 3.1847, hai tàu chiến Pháp vào Đà Nẵng, thuyền trưởng cùng giáo sĩ Pháp ngang nhiên đi thẳng vào công quán hăm dọa.

Tháng 4.1847, tàu chiến Pháp lại vào Đà Nẵng bắn phá chiến thuyền của triều đình Huế. Ở trong đất liền giáo sĩ Pháp ép buộc con chiên làm tay sai cho chúng. “Bọn giặc ngày càng hoạnh họe, thường ngày lên bờ, ra vào thôn ấp. Có kẻ từ trước theo tà đạo, thường đi lại dòm ngó, ngầm báo tin tức cho giặc. Binh thuyền Tây ở ngoài bến cảng ràng buộc thúc giục chúng(2).

Giữa thế kỷ XIX, lúc các tàu chiến lảng vảng ở ven biển Việt Nam, thì cũng là lúc các giáo sĩ như giám mục Retord, giám mục Pellerin, giáo sĩ Huc, tới Pháp yêu cầu Napoleon III gấp rút hành động. Chúng sợ “người Anh đang dòm ngó Đà Nẵng, họ sẽ đi trước chúng ta nếu họ biết đề án đánh chiếm của ta”(3).

Đà Nẵng, trận đầu đánh Pháp.

Sau khi cùng Anh, Mỹ buộc triều đình Mãn Thanh ký hiệp ước Thiên Tân (27.6.1858), Pháp kéo quân đội viễn chinh, từ chiến trường Trung Quốc tới đánh chiếm Việt Nam.

Chiều ngày 31.8.1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha dàn trận ở cửa biển Đà Nẵng. Lực lượng Pháp gồm 2500 quân, 13 chiếc thuyền, trang bị vũ khí hiện đại, trong đó có tàu chở 50 đại bác. Tây Ban Nha góp thêm vào quân đội xâm lược 450 tên và một chiến thuyền. Bên cạnh viên chỉ huy De Genouilly còn có giám mục Pellerin làm cố vấn và hai giáo sĩ thông thạo địa lý, tiếng Việt, chuyên liên lạc với bọn Giám mục trong đất liền.

Sáng 1.9.1858, Pháp gửi tối hậu thư, hẹn trong hai giờ phải trả lời. Tổng đốc Nam Ngãi, trong tay có 3000 quân, án binh bất động, chờ lệnh triều đình. Chưa hết giờ hẹn, giặc bắn hàng trăm phát đại bác lên đất liền, rồi đổ bộ chiếm bán đảo Sơn Trà.

Được tin mất bán đảo Sơn Trà. Tự Đức cử Tổng thống quân thứ Nam Ngãi tăng viện cho mặt trận Đà Nẵng 2000 quân. Địch cố tiến quân vào đất liền. Những trận chiến diễn ra ở Cẩm Lệ ven biển huyện Hòa Vang, Tổng thống quân vụ Lê Đình Lý hi sinh.

Tháng 10.1858, Nguyễn Tri Phương(4) Kinh lược sứ ở Lục tỉnh được điều động ra làm Tổng thống quân thứ Quảng Nam. Ông chủ trương xây thành đắp lũy kiên cố, ngăn chặn địch ở ngoài mé biển. Ông cho đắp phòng tuyến Liên Trì, gồm một hệ thống đồn lũy dài 3km ở tả và hữu ngạn sông Hàn.

68380006

Tiếng súng từ Đà Nẵng vang vọng cả nước

Nhân dân ở những vùng có giặc lập tức làm vườn không nhà trống, không để cho giặc bắt lính, vơ vét lương thực. Quân Pháp phải thú nhận: “Đất mà chúng tôi chiếm được thì hoàn toàn bị bỏ trống, trừ vài nhà tranh của dân chài”(5). Quân dân Quảng Nam dùng sọt tre, thùng gỗ chứa đá và đắp lấp sông Vĩnh Điện ngăn chặn tàu chiến giặc. Triều đình cho thực hiện kế hoạch của Trần Nhật Hiển, một võ quan cấp thấp, làm dây xích chắn ngang các sông và các cửa biển Thuận An, Tư Hiền, dùng thuyền nhỏ phục kích địch. Tháng 11.1858, chiến thuyền giặc vào sông Hàn, sông Nại Hiên, bị quân dân ta đánh lui. Khắp nơi những đội quân “bao gồm tất cả những ai không đau ốm và tàn tật”(5) được thành lập và Phạm Gia Vĩnh là một chỉ huy dân quân nổi tiếng ở Quảng Nam lúc đó.

Mặt trận Đà Nẵng mở màn, lòng dân cả nước hướng về Đà Nẵng đầy niềm lo âu và trách nhiệm. Ở cửa biển Cần Giờ, cuối 1858, nhân dân ta đắp thành, bảo vệ pháo đài Phúc Thắng, sẵn sàng đánh địch. Ở Lục tỉnh, quản cơ Trương Định chiêu mộ trai tráng, lập đội nghĩa binh, chuẩn bị chống Pháp, tiến sĩ Phạm Văn Nghị, đốc học Nam Định, nghe tin Pháp đánh Đà Nẵng đã hăng hái tập hợp 300 “thân biền binh dũng”. Cuối năm 1859 đoàn quân “Nam tiến” đầu tiên này đi đường bộ và đường thủy, nhanh chóng vào kinh đô Huế (21.3.1860) xin nhà vua cho ra mặt trận giết giặc(6).

Dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, mặt trận Đà Nẵng được giữ vững. Một tình thế bất ngờ diễn ra đối với Pháp, sau 5 tháng tiến công, quân giặc hầu như dẫm chân và sa lầy tại chỗ. Chúng chỉ chiếm được một bán đảo không người và mấy làng ven biển cũng không người. Cuộc hành binh lớn đầu tiên của Pháp vấp phải sự chống cự quyết liệt của quân dân Đà Nẵng và nhân dân Việt Nam “Đô đốc R.de Genouilly thất vọng trong việc định giáng cho Huế một đòn quyết định”(7). Và “nếu chiến tranh cứ tiếp tục theo kiểu này thì sẽ kéo dài hàng trăm năm”(8).

Chú thích:

(1) Hiệp ước Verseille gồm 10 điều khoản. Phía Nguyễn Ánh cam kết nhượng hẳn cho Pháp quyền sở hữu cảng Hội An, đảo Côn Lôn cho Pháp độc quyền buôn bán ở Việt Nam, cam kết gửi binh lính, lương thực, tàu chiến và mọi trang bị khi Pháp đánh nhau với một nước khác. Phía Pháp giúp Nguyễn Ánh khôi phục lại đất đai, giúp 4 tàu chiến, 1000 binh lính và vũ khí trang bị.

(2) Khuyết danh, Dương sự thủy mạc. Bản chữ Hán, kho sách Việt Hán Nôm, ký hiệu VHv.2373 tờ 1b – 2a.

(3) Thư của giáo sĩ E.Huc gửi Napoléon III tháng 1.1837 (xem G.Taboulet, Lịch sử Việt Nam Nxb KHXH 1985 tập 1, trang 405).

(4) Nguyễn Tri Phương quê ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên.

(5) Thơ tín của Favin de Larcheaux.

(6) Khi quân của Phan Văn Nghị vào đến Huế thì thuyền binh Pháp đã kéo đánh Gia Định.

(7) Prosper Cultru. Đã dẫn, tr.66.

(8) B.Savin de Larclause. Đã dẫn, tr.57.

NCL. (Tổng hợp)

ĐT&PT số 74 – 75/2018

Check Also

lua7_c

Ngày hội tơ lụa Việt Nam – châu Á 2017: Kết nối di sản, tinh hoa hội tụ

          Với sự tham dự của 7 nước châu Á, 12 …