Home / VĂN HÓA ĐỜI SỐNG / Chiến tranh, miền Nam – Đà Nẵng và tôi

Chiến tranh, miền Nam – Đà Nẵng và tôi

       Một tiếng khóc đã theo tôi, từ sau giờ khắc ấy, rất muốn đi vào các trang văn mặt báo mà rồi cứ quay ngược trở lại ký ức. Cùng bạn đọc Đô thị & Phát triển hôm nay tôi đã gặp nhân duyên.

      … Suốt các năm đầu chiến tranh phá hoại miền Bắc và cũng là những năm Hải Phòng hứng chịu nhiều tàn phá, gia đình tôi sơ tán ở đấy. Bố mẹ làm ngành y, anh em tôi lóc nhóc đi theo trên khắp Đất Cảng. Nhớ, thời ấy mỗi tỉnh thành ngoài Bắc đều “chơi với” một tỉnh thành trong Nam. Người lớn gọi là phong trào kết nghĩa Bắc – Nam. Hải Phòng thì “chơi với” Đà Nẵng trong câu khẩu hiệu đến giờ còn thuộc: “Hải Phòng – Đà Nẵng – nặng lòng tình nghĩa”. Mỗi khi cùng các bạn hát trong lớp hay nghêu ngao ngoài đường những câu “Kìa nắng sớm mai chiếu soi ngàn muôn tia sáng/ Chúng em vây quanh cô giáo trong giờ chơi…/ Đây miền Nam đồng ruộng mênh mông”, chẳng hiểu sao tôi ít nhập tâm các nơi chốn như Cửu Long, Tháp Mười, Cà Mau… Chỉ nghĩ đến “nhịp cầu cách ngăn” và thành phố kết nghĩa. Với thằng bé tôi mươi tuổi, miền Nam là cầu Hiền Lương, miền Nam là Đà Nẵng!

      Hết chiến tranh, trở về Hà Nội. Mỗi khi rỗi hơi đôi ba bạn học chúng tôi rủ nhau lượn lờ vẩn vơ với màn cuối là dắt xe đạp, đi dọc đường Phan Đình Phùng đêm ngày đầy cây lá. Rất thích dừng lại dưới cổng thành Cửa Bắc rêu phong cổ kính bị khoét lõm bởi hai phát đạn đại bác của quân Pháp bắn trong đợt đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2 vào năm 1882. Có đứa bảo y như hai vết cào cấu. Đứa khác thấy như hai con mắt đen xỉn. Tôi thì hay lan man nghĩ nhanh về Đà Nẵng. Vô thức thôi. Khi đó chưa suy tư rành mạch rằng, tự bởi năm 1858 pháo thuyền Pháp khởi đầu đánh chiếm Việt Nam bằng trận tấn công Đà Nẵng. Rằng tới năm 1965 lính thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, chính thức mở ra cuộc chiến tranh kinh hoàng nhất thời đại…

     Ra đời, trôi nổi vòng vo địa cầu. Ấy thế ngay tại xứ sở mình vẫn có hai nơi cứ tìm đến hoài vẫn chưa tới nơi. Cố đô Huế, kẻ mộng mơ là tôi bị lỗi hẹn dăm lần. Và Đà Nẵng. Là biểu tượng miền Nam tuổi thơ; và còn là nơi khiến mẹ tôi từng phải khóc ròng!

     Lần gần nhất tôi “về Quảng Nam – Đà Nẵng” là dịp Tết ta vừa qua. Báo Lao động miền Trung & Tây Nguyên, bài của nữ văn sĩ quen thuộc. Có chuyện rằng sau khi ngưng tiếng súng, người cha dẫn các con nhỏ về quê cũ Gò Nổi tìm lại ngôi nhà cũ sau 10 năm phải sống ở Đà Nẵng tránh binh lửa. Nhưng họ không thể tìm nhận ra nhà cửa, lối xóm. Tất cả là hố bom kề hố bom. Những con mắt đen xỉn… Có tấm hình chụp trước 1975, hai chị em học trò Đà Nẵng áo dài cười mỉm chi trong gió. Tươi tắn, mặn mòi, tự tin. Nhìn mắt cô em thấy cũng tinh nghịch y chang đám học sinh Hải Phòng, Hà Nội chúng tôi xưa.

      … Trở lại chuyện tôi. Có 7 anh chị em thì 4 người tham gia quân đội; trong hai người anh trai lâm chiến, một người năm 1972 có mặt trong đoàn quân xuyên Trường Sơn. Hai mươi ba tuổi, vừa tốt nghiệp hạng ưu ngành Toán lý thuyết từ Đông Âu trở về, anh tôi không lời thưa cùng cha mẹ, một mình đến Ủy ban nộp đơn tình nguyện ra chiến trường B. Sau, báo Nhân dân có bài viết. Oách nhất là câu trích thư anh viết về cho mẹ: “Con sẽ bắn quân Mỹ bằng đường ngắm của một nhà toán học!”

       Cả Hà Nội lại sơ tán. Bạn bè anh từ các tỉnh tới lui nhà tôi trong khi chờ phân công công tác. Tôi vừa mới thi vào đại học, đang hồi hộp chờ, được ở lại thay mặt cả nhà thù tiếp khách quý… Nghe nói anh tôi đáng lẽ ở lại Đông Âu làm tiếp luận án phó tiến sĩ; lại nghe đâu đã có trong danh sách về dạy ở Đại học Bách khoa… Một năm sau, như là chuyến đi một mình và xa lạ nhất, chàng trai Hà Thành là tôi hân khoái dong xe lên mạn ngược Hòa Bình, vượt dốc Cun (nghĩ lại còn thấy hoảng!) đi mãi mới tìm ra gia đình người Mường nơi anh tôi từng đóng quân. Được ăn xôi lam gà nướng nứa để rồi nhận về các đồ cá nhân đã không thể cùng anh vào Nam.

      Rồi 30 – 4 – 1975… Đúng lúc Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam sang sảng loan tin “Miền Nam hoàn toàn giải phóng…” tôi đang ở nhà. Cả khu tập thể ào lên hơn cả hồi chạy bom B52. Mọi người đổ ra các mảnh sân nho nhỏ trước mỗi căn nhà thấp bé của mình. Ai cũng ới gọi hàng xóm. Bố tôi chạy ra sớm nhất… Nhà nọ nhà kia tranh nhau nói. Kể. Bình. Bàn. Rồi đến lúc cùng im bặt, nghe tiếp tiếng phát thanh viên. Bỗng một cô nhà bên bỗng gọi bố tôi: “Ối, trong nhà bác có ai khóc… Tiếng lạ. Khóc to! Bác gái đâu rồi ạ?” Đã qua cơn sốc chung, tôi nhớ trong nhà đang có mẹ. Bố vẫn cười nói như đã biết tiếng khóc đó từ lâu, từ những khi tiếng khóc âm ỉ. “À chị đấy mà. Nhớ, lo cho cháu quá! Thì đơn vị nó vẫn chốt ở Thượng Đức từ năm ngoái…” Đoạn ông chuyển sang nói về ý nghĩa quyết định của trận Thượng Đức với số phận miền Nam.

      Mọi người không còn mối quan tâm như trước. Mỗi người nhắc đến một người thân quen trong Nam, trong quân đội, ở nơi xa… Tôi vào nhà. Mẹ khóc to hơn. Cách khóc cũng khác mọi lần. Như thể một người nào đó tôi chưa biết. Hai chục tuổi ranh, chết chóc chỉ nhòm từ xa; lần gần nhất cũng hơn 30 mét, may nhờ chiếc hầm kèo chắc chắn nên trong hầm, tôi cùng đám bạn học lớp năm (cô Xuân Cát Dài chủ nhiệm) chỉ nghe thấy sức ép của bom. Tôi đâu hiểu tiếng khóc ngày chiến thắng là gì! Nếu hiểu ắt lúc đó sẽ an ủi được mẹ, và sau này biết đâu một thiên tiểu thuyết kiểu như Nỗi buồn chiến tranh sẽ chẳng để lọt vào tay vị nhà văn khi ấy cũng trẻ tuổi mà kinh nghiệm chiến binh đầy mình ấy?!

      Mẹ vẫn khóc. Bố vẫn ngoài sân cùng đám đông phấn chấn. Tôi sực nhớ giờ đi học. Là buổi thực tập ca chiều trong xưởng. Vội phóng xe lên đường Đê La Thành thân thuộc, luôn chật chội mặt đường mà lộng gió bốn phương. Không khí Đê La Thành buổi ấy căng phồng hết cỡ.

     Đến lớp, thầy Đởn – cán bộ Đoàn chuyên trách nghiêm túc thế mà cũng mỉm cười hạ lời cho nghỉ. Cả lớp, bọn ngoại trú chở bọn nội trú, líu ríu đạp xe ra hồ Hoàn Kiếm. Đông nhộn. Ai cũng rạo rực muốn mà không biết nói với ai điều gì cho ra nói. Nhớ nhất, đám chúng tôi bắt chước lũ học sinh phi tàu bay giấy ra mặt hồ. Tới lúc hoàng hôn, một bạn nữ nói về “thiệt hại của quân ta”, tôi mới nhớ tiếng mẹ khóc. Đạp xe chầm chậm về nhà theo phố Nguyễn Thái Học, cái con đường từng biết khá nhiều chuyện chán nản của tôi. Hà Nội lại đang lên đèn…

    Cả nhà vào bữa tối, tôi thoáng nhận ra mẹ đã khóc đã lo từ cuối tháng trước cơ. Thế ra mẹ khóc lo suốt từ ngày Đà Nẵng hòa bình cho đến ngày Sài Gòn hòa bình, Việt Nam hòa bình. Mà tôi không biết. Còn những tháng năm trước đó, từ buổi anh tôi hoan hỉ nhận giấy báo nhập ngũ? Còn những tháng năm trước nữa khi bố tôi đang là bộ đội đánh Pháp, ông bà ngoại tôi chịu oan khiên cải cách ruộng đất mà mẹ là chị cả của đại gia đình với 13-14 người con? Tôi không biết. Còn những tháng năm trước và sau nữa khi chị cả, anh cả rồi em út tôi nhập ngũ? Còn những tháng năm trước và sau khác nữa? Tôi cũng không biết.

     Đúng, hẳn mẹ không rành Thượng Đức là đâu: Quảng Nam, Quảng Ngãi hay Quảng Trị? Hẳn đọc báo nghe đài, hỏi han đó đây chỉ biết ấy là một vùng núi gần địa danh dễ nhớ hơn cả: Đà Nẵng. Đúng, phải tới ngày 29 tháng ba, Đà Nẵng hòa bình mới làm bao dân thường ngoài Bắc thổn thức thật sự về dấu chấm hết thật sự của một thập niên lửa đạn chưa từng có.

       … Song thân chúng tôi nay chẳng còn ai trên đời nữa. Anh trai tôi sau 30 – 4 – 1975 ít lâu cũng kịp từ Thượng Đức bắn tin về, rồi vài năm sau được chuyển quân ra Bắc. Trở về nhà. Nguyên vẹn.

       Trong nhà tôi là đứa con thường xuyên sống gần cha mẹ hơn cả. Cho tới ngày mẹ đi xa tôi từng chứng kiến ngót mươi lần mẹ khóc. Nhưng vì sao tiếng khóc 30 – 4 của mẹ mãi khôn nguôi trong tôi? Có một điều, tôi hiểu mẹ là người phụ nữ chịu đựng, chỉ khóc khi buộc phải. Như bao người mẹ khác. Việt Nam.

                                                                                     Tản văn Đỗ Ngọc

ĐTPT số 67/2017

 

Check Also

Dốc tình

DỐC TÌNH

     Đà lạt im lìm, Đà Lạt sao mà nhiều dốc, những con dốc …