Home / QUY HOẠCH - KIẾN TRÚC - XÂY DỰNG / QUY HOẠCH / Định hướng quy hoạch chung đến năm 2030 và những thách thức về vấn đề giao thông

Định hướng quy hoạch chung đến năm 2030 và những thách thức về vấn đề giao thông

Định hướng quy hoạch chung đến năm 2030 và những thách thức về vấn đề giao thông

Hiện nay thành phố Đà Nẵng đang thực hiện Đồ án điều chỉnh quy hoạch chung đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là cơ hội để các nhà quản lý và các chuyên gia nhìn nhận một cách tổng quát về thực trạng giao thông đô thị. Từ đó có những định hướng tích cực cho việc phát triển hệ thống giao thông đô thị trong tương lại

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH CHUNG:

Hiện nay Viện Quy hoạch Xây dựng đã thực hiện hồ sơ quy hoạch. Lãnh đạo Thành phố sẽ bố trí nghe báo cáo Quy hoạch chung vào trung tuần tháng 9 năm 2012.

So với Đồ án điều chỉnh quy hoạch chung đến năm 2020, Đồ án lần này có những thay đổi lớn về quy mô, tính chất đô thị.

  1. Về quy mô dân số:

– Theo kịch bản của Moore Urban Design: Đến năm 2030 là 1.5 triệu người

– Theo kịch bản của Jica: Đến năm 2030 là 2.0 triệu người.

Như vậy so với dân số hiện tại ( khoảng 930 nghìn người ) thì con số dự báo sẽ tăng từ khoảng 1.5 đến hơn 2 lần. Điều đó có nghĩa lượng tham gia giao thông trong tương lai sẽ tăng rất mạnh.

Bên cạnh đó với tính chất của một thành phố du lịch, tỷ lệ khách du lịch rất cao sẽ tạo thêm áp lực về giao thông đô thị.

  1. Về quy mô đất phát triển đô thị:

Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung đến năm 2020 xác định quy mô dân số đến năm 2020 khoảng 1.2 triệu dân nên chỉ xác định ranh giới phát triển đô thị đến khu vực phía Đông dãy Phước Tường. Tuyến đường sắt và nhà ga đường sắt được xem là ranh giới phía Tây của đô thị.

Nay với quy mô dân số được xác định từ 1.5 đến 2 triệu dân thì việc điều chỉnh ranh giới đô thị về phía Tây là tất yếu. Theo tính toán, quy mô đất đô thị sẽ vào khoảng 26.000 ha đến 30.000 ha, nghĩa là khoảng gấp đôi con số hiện tại.

  1. Định hướng phát triển đô thị

Phương án ý tưởng Moore Urban Design & Jica

Về cơ bản đã tuân thủ theo quy hoạch chung được duyệt năm 2002: Hướng Tây Bắc, Nam, Đông Nam.

Định hướng tiếp theo sẽ là phát triển đô thị tại:

– Phát triển khu vực Hải Vân, Sơn Trà; Khu công nghệ cao, Khu công nghệ thông tin tập trung tại Hòa Liên…

– Phát triển dọc theo sông Cu Đê: 3.000 – 3.700 ha

– Phát triển khu vực Hòa Liên, Hòa Phong, Hòa Nhơn, Hòa Phú

– Phát triển dọc theo các tuyến trục đường giao thông đối ngoại của thành phố

– Phát triển Khu đô thị Phước Tường: 1.000 – 1.500 ha

– Phát triển khu vực đô thị Hòa Châu, Hòa Tiến: 2.481 ha

– Phát triển chuỗi đô thị liên kết vùng về phía Nam giáp với Hội An dọc theo sông Cổ Cò

  1. Quy hoạch giao thông:

              3.1.Giao thông đối ngoại:

  • Sân bay

– Sân bay quốc tế: Nâng cấp Sân bay Đà Nẵng từng bước chuyển thành Sân bay dân dụng thuần túy (không có quân sự). Mở rộng Ga hàng không dân dụng đến 6 triệu khách/năm (2020) và 8 triệu khách/năm (2030). Qua thời hạn quy hoạch 2030 có thể xem xét di chuyển sân bay Đà Nẵng do yêu cầu phát triển đô thị thời điểm đó.

– Sân bay Nước Mặn: Từng bước chuyển đổi mục đích sử dụng Sân bay Nước Mặn để phát triển đô thị

  • Hệ thống cảng

– Cảng Tiên Sa: Phát triển nâng công suất cảng lên lên trên 4 triệu tấn/năm, phát triển xây dựng cảng hậu phương công suất 1 triệu tấn/năm, mở rộng bến bãi hậu cần của cảng.

– Cảng sông Hàn: Chuyển đổi chức năng thành Cảng du lịch

– Cảng Liên Chiểu: từng bước xây dựng mới cảng Liên Chiểu thành Cảng phục vụ du lịch gắn liền với việc phát triển Khu đô thị du lịch Làng Vân.

– Các cầu cảng nhỏ khác: Xây dựng một số bến thuyền cầu cảng ven theo Hải Vân, Sơn Trà, ven theo các tuyến sông… để phục vụ du lịch.

  • Đường sắt

Xây dựng mới nhà ga đường sắt với quy mô 80 ha, là tuyến đường đôi, đi ra ngoài vùng phát triển đô thị.

  • Đường bộ

– Xây dựng đường các cao tốc La Sơn -Túy Loan, Túy Loan – Dung Quất

– Nâng cấp đường quốc lộ 1A, 14B hiện nay

– Đường Hồ Chí Minh

Nâng cấp các đường ĐT của thành phố bảo đảm yêu cầu đấu nối với giao thông quốc gia và khu vực.

               3.2. Giao thông đô thị:

  • Các tuyến giao thông chính được đầu tư mới:

– Xây dựng mới các tuyến giao thông chính cấp thành phố nối các Khu đô thị của thành phố, các trục chính khác đã được hình thành và nối ra vùng chức năng khác ven đô, đấu nối vào các trục giao thông đối ngoại khác như:

– Đường vành đai phía Nam từ đường Trường Sa đến ĐT604

– Đường vành đai phía Tây từ đường cao tốc Đà Nẵng – Dung Quất đến ĐT 601

– Đường ven đường sắt từ QL14B đến đường tránh Nam Hải Vân.

– Xây dựng tuyến đường ngầm qua Sân bay Đà Nẵng, nối liền các Khu đô thị phía Đông và phía Tây sân bay.

– Xây dựng hệ thống giao thông đô thị cấp khu vực ở tại các khu đô thị mới, bổ sung những tuyến đường còn hạn chế giao thông ở các khu vực đô thị đã có hình thành mạng lưới giao thông đô thị hoàn chỉnh, đảm bảo giao thông đạt 20-30% diện tích đất đô thị, mật độ 7 km/km2 (tính theo đường khu vực)

  • Hệ thống giao thông tĩnh:

Xây dựng hệ thống ga ra ô tô tại các khu vực đô thị theo quy hoạch gồm các loại: Bãi xe ngầm, bãi xe nổi.

Phương tiện giao thông đô thị, lựa chọn hình thức giao thông đô thị trong tương lai:

Từng bước hạn chế loại hình giao thông cá nhân đặc biệt là xe máy, đồng thời phát triển các loại hình giao thông công cộng từng bước gồm:

– Xe buýt

– Xe buýt chất lượng cao

– Tàu điện  ngầm (2020 – 2030)

II. NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI GIAO THÔNG ĐÔ THỊ:

Như vậy,  Đà Nẵng phải sẵn sàng đối diện với những thách thức không nhỏ trong quá trình thay đổi về số lượng và chất lượng giao thông đô thị.

Ngoài những thách thức mang tính xã hội như thói quen dùng phương tiện cá nhân, cơ chế chính sách, nguồn vốn đầu tư…là những thách thức mang tính kỹ thuật.

Trên phương diện quy hoạch đô thị, đó là:

– Thiếu diện tích dành cho giao thông tĩnh:

Hiện nay, phương tiện giao thông cá nhân phổ biến như xe đạp, xe máy vốn có kích thước nhỏ, tính cơ động cao nên vấn đề bãi đỗ xe chưa thực sự bức xúc. Tuy nhiên chỉ khoảng 5 năm tới với sự tăng nhanh lượng xe ô tô gia đình thì đây là vấn đề hệ trọng.

Với 1 đô thị văn minh, không thể chấp nhận việc đỗ xe trên lòng đường, khi ấy cần phải có một mạng lưới các bãi đỗ xe đầy đủ. Chỉ tính riêng lượng xe gia đình khi đạt con số 50.000 chiếc, đô thị phải cần khoảng 80 ha đến 100 ha diện tích bãi đỗ xe. Hiện nay chúng ta mới chỉ chuẩn bị chưa được 10% con số ấy.

Đấy là chưa kể đến giao thông tĩnh dành cho các phương tiện giao thông công cộng đô thị và các phương tiện ngoại tỉnh khi vào thành phố.

– Bất cập về thiết kế đường hiện trạng:

Xu hướng tất yếu để giảm tải giao thông trên mặt đất là hệ thống giao thông ngầm. Tuy nhiên để phát triển hệ thống giao thông ngầm thì ngay từ bây giờ chúng ta phải có những sự chuẩn bị về các điểm đầu mối liên kết với mặt đất.

Thành phố Đà Nẵng hiện nay đã và đang xúc tiến quy hoạch hệ thống giao thông ngầm với sự hợp tác của JICA. Tuy nhiên nhìn vào thực tế sẽ thấy không ít khó khăn do chúng ta chưa có sự chuẩn bị từ các Quy hoạch chung trước đây.

Thực tế hiện nay vỉa hè các tuyến giao thông phần lớn chỉ có độ rộng trên dưới 5m. Ngay cả các góc giao lộ, độ rộng của vỉa hè cũng không thay đổi. Đô thị Đà Nẵng vốn cũng không có nhiều đất quảng trường, công viên nên việc chọn các vị trí cạnh giao lộ, trước các tòa nhà lớn làm các điểm đầu mối là không thể tránh khỏi.

Điều này dẫn đến khó khăn khi đầu tư xây dựng các điểm đầu mối cho hệ thống giao thông ngầm. Khi ấy nhất thiết phải giải tỏa một lượng đáng kể về đất và vật kiến trúc, rất gây tốn kém

III. KIẾN NGHỊ:

Quy hoạch giao thông công cộng là một thành phần hết sức quan trọng trong quy hoạch đô thị. Muốn ứng dụng các dụng tiến bộ công nghệ phát triển hạ tầng giao thông đô thị nhất thiết phải có quy hoạch hợp lý, tạo tiền đề.

Với quỹ đất hạn hẹp, lại được định hướng phát triển theo thành thành phố du lịch, Đà Nẵng nhất thiết phải khai thác mạnh về không gian ngầm. Trong đó, công tác quy hoạch hệ thống giao thông ngầm phải được đặt ở vị trí đặc biệt, bởi nó là mấu chốt cho việc kết nối và chi phối hạ tầng không gian ngầm. Trong quá trình lập quy hoạch cũng như lập dự án đầu tư cần tính toán đến việc tạo ra tính đa năng trong các dự án. Phải tính toán kỹ càng và có tầm nhìn xa cho việc liên kết hệ thống các công trình ngầm với hệ thống không gian trên mặt đất, đồng thời đảm bảo việc khớp nối kỹ thuật, khớp nối không gian và cảnh quan kiến trúc đô thị. (TheoTS Lưu Đức Hải)

Phát triển giao thông trên cao cũng là khả năng cần được tính đến, tuy nhiên hướng phát triển này không phù hợp lắm với một đô thị đề cao tính thông thoáng, thanh bình và thân thiện.

Quá trình lập Đồ án điều chỉnh quy hoạch chung thành phố là cơ hội để các chuyên gia, các nhà quản lý đề xuất các ý tưởng tích cực.

Hội thảo “ Ứng dụng tiến bộ công nghệ phát triển hạ tầng giao thông đô thị thành phố Đà Nẵng” vào thời điểm này là hành động hết sức cần thiết. Để những sáng kiến, đề xuất tại hội thảo thâm nhập được vào cuộc sống, chúng ta cần có phương pháp để kết nối các giá trị khoa học vào hoạt động quản lý nhà nước. Kính đề nghị Hội KHKT Việt Nam sớm tập hợp được các ý tưởng hay, các nghiên cứu có giá trị để chuyển đến cho các cơ quan chức năng và tổ chức liên quan để cùng tham gia đóng góp vào sự nghiệp phát triển đô thị.

Sở Xây dựng TP. Đà Nẵng  

Check Also

1_625345

ĐÔ THỊ BIỂN VIỆT NAM – TIẾP CẬN VẤN ĐỀ VÀ SUY NGẪM VỀ ĐƯỜNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN

Việt Nam minh châu trời Đông Việt Nam nước thiêng tiên rồng Non sông như …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *