Home / VẤN ĐỀ HÔM NAY / TIN VẮN / Đóng góp ý kiến về dự án Luật về Hội

Đóng góp ý kiến về dự án Luật về Hội

Đô thị & Phát triển xin trích đăng bài tham luận tại Hội thảo Luật về Hội của ông Trần Ngọc Hùng – Chủ tịch Tổng Hội Xây dựng Việt Nam. Bài viết được đăng trên Tạp chí NGƯỜI XÂY DỰNG Số tháng  3 & 4 / 2018.


QUYỀN LẬP HỘI của công dân Việt Nam đã được quy định trong điều 25 của Hiến pháp năm 2013 và việc thực hiện quyền này do “PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH”. Để thực hiện quyền lập Hội này Quốc hội Khóa XIV đưa vào chương trình xây dựng Pháp luật và dự định thông qua LUẬT VỀ HỘI tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội Khóa XIV vào tháng 10-11/2016. Rất tiếc rằng Luật về Hội không được thông qua và đây là lần 2 Quốc hội đã đưa ra thảo luận tại hội trường và không được thông qua. Điều đó nói lên tính quan trọng và phức tạp của nội dung Luật về Hội.

Ông Trần Ngọc Hùng - Chủ tịch Tổng Hội Xây dựng Việt Nam
Ông Trần Ngọc Hùng – Chủ tịch Tổng Hội Xây dựng Việt Nam

Dự thảo Luật về Hội ngày 10/10/2016 được Chính phủ trình Quốc hội đã có nhiều ý kiến đóng góp của các tổ chức hội, đối tượng chủ yếu chịu tác động của Luật về Hội. Vì vậy Tổng Hội Xây dựng Việt Nam và nhiều tổ chức thành viên của Liên hiệp Hội dã liên tục tổ chức nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo về nội dung dự thảo Luật về Hội. Và ngày 23/10/2016 Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam đã có văn bản số 765/LHHVN-TCCB gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan hữu quan về một số nội dung chính chưa phù hợp cần phải nghiên cứu xem xét điều chỉnh và kiến nghị chưa nên thông qua tại kỳ thứ 2 này.

Về căn bản chúng tôi thống nhất với các kiến nghị chủ yếu của Liên hiệp Hội (có văn bản kèm theo) với góc độ của một tổ chức xã hội nghề nghiệp, Tổng Hội Xây dựng Việt Nam với 12 hội ngành Trung ương, 45 Hội Xây dựng tỉnh, thành phố với hơn 2.000 hội viên tập thể, trên 30.000 hội viên cá nhân, tôi xin được đóng góp một số ý kiến về dự thảo Luật về Hội (đề ngày 10/10/2016) như sau:

  1. Đánh giá chung về dự thảo Luật về Hội

Quyền lập Hội của công dân Việt Nam đã được quy định ngay từ Hiến pháp năm 1946, tổ chức thành lập và hoạt động được thực hiện theo sắc lệnh số 102 ngày 20/5/1957 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các Nghị định số 88 và 45 của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Với hàng vạn tổ chức Hội ở Trung ương và địa phương với hàng chục triệu hội viên với nội dung hoạt động đã được quy định trong điều lệ tập trung vào nội dung nâng cao trình độ, trí thức, quyền lợi của hội viên đều tập trung vào nhiệm vụ phát triển khoa học kỹ thuật của đất nước, phục vụ cộng đồng xã hội thông qua các hoạt động tư vấn phản biện, nghiên cứu khoa học, đào tạo phổ biến kinh nghiệm, kiến thức…

Vì vậy, việc tổng kết kết quả hoạt động của các tổ chức Hội một cách đầy đủ sẽ làm cơ sở cho việc đưa ra các quy định phù hợp trong Luật về Hội để các tổ chức hội PHÁT HUY tối đa mọi tiềm lực góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước đặc biệt với tư duy CHÍNH PHỦ (cơ quan quản lý nhà nước) kiến tạo, phát huy tối đa năng lực của xã hội với nội dung, chuyển giao toàn bộ nhiệm vụ mà xã hội làm được, giảm tối đa công việc của cơ quan quản lý nhà nước.

Với tinh thần như vậy thì nội dung dự thảo Luật về Hội 10/10/2016 có thể nhận thấy nhiều nội dung không phù hợp nội dung của dự thảo tập trung chủ yếu vào các quy định phục vụ quản lý nhà nước. Cụ thể:

+ Trong 33 Điều chỉ có 2 điều quy định liên quan đến quyền lợi của hội đó là: quyền lập Hội (Điều 3), Quyền của Hội (Điều 22) nhưng không có điểm nào có quy định CƠ CHẾ TẠO ĐIỀU KIỆN của các cơ quan quản lý nhà nước để Hội thực hiện các quyền đó tại các điều “quyền của hội” tại điều 22 đều mang tính chất được THAM GIA. Có nghĩa là chỉ tham gia theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân (cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan soạn thảo, chủ các đề tài, dự án Pháp luật, đầu tư…). Không có cơ chế bắt buộc vì vậy nhiều trường hợp không được mời tham gia, khi tham gia tiếp thu hay không đều không được tranh luận, trả lời, nhiều trường hợp mang tính hình thức.

+ Ngược lại tất cả các quy định còn lại đều mang nội dung Quản lý nhà nước đặc biệt là nhiều nội dung không cần thiết can thiệp vào nội dung hoạt động và Điều lệ của các tổ chức của Hội.

  1. Một số ý kiến đóng góp cụ thể
    • Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng đề nghị sửa như sau: Luật này áp dụng cho mọi tổ chức Hội trừ các tổ chức Hội có Luật riêng (Luật MTTQ, Luật Công đoàn, Pháp lệnh về Cựu Chiến binh…) như vậy vừa đảm bảo tính công khai, minh bạch, dân chủ vừa không bị nhầm lẫn với các tổ chức mang tính đoàn thể chính trị đã có luật riêng điều chỉnh.
    • Thủ tục thành lập, hoạt động, báo cáo hoạt động: Quá nhiều quy định không cần thiết. Cụ thể:

Điều 13: Điều lệ Hội: Do Hội quyết định và đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước (không cần hướng dẫn chi tiết vì nhiều hội chuyên môn, ít người điều lệ rất đơn giản).

Điều 14: Đại hội thành lập do Điều lệ Hội quyết định không cần phải hướng dẫn nội dung.

Điều 15: Bỏ vì không cần cơ quan quản lý nhà nước công nhận (Vì Điều lệ đã gửi khi đăng ký thành lập, hoặc có sửa đổi bổ sung thì cũng phải gửi Cơ quan quản lý nhà nước), Nhà nước “tuýt còi” khi Điều lệ có vi phạm pháp luật. Còn người đứng đầu cũng không cần cơ quan quản lý nhà nước công nhận vì họ được Đại hội tín nhiệm theo tiêu chuẩn; khi đăng ký thành lập, hoặc đại hội, Hội đã phải gửi lý lịch trích ngang, lý lịch tư pháp. Nếu người đứng đầu không đảm bảo quy định tại điều 8 thì cơ quan quản lý nhà nước có văn bản không công nhận và yêu cầu Hội xóa tên và bầu người khác vì vi phạm pháp luạt.

Điều 16: Hội viên cần bổ sung người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài đang sống và làm việc ở Việt Nam được công nhận là HỘI VIÊN LIÊN KẾT (không có quyền biểu quyết, đề cử, ứng cử).

Điều 18: Bỏ toàn bộ vì Hội đại hội theo Điều lệ chỉ giữ lại chế độ báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước trước và sau Đại hội về nội dung Đại hội và nhân sự người đứng đầu (nếu có thay đổi), Điều lệ sửa đổi (nếu có).

Đặc biệt KHÔNG CẦN PHẢI CÓ sự đồng ý của cơ quan quản lý nhà nước mới được tổ chức đại hội.

Điều 19, 20, 21: Bỏ toàn bộ vì đã có trong Điều lệ (khi đăng ký, hoặc bổ sung sửa đổi khi Đại hội quyết định).

Điều 28: Bỏ khoản 3 bỏ việc công nhận điều lệ và người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước sau khi xem xét điều lệ và người đứng đầu nếu có yếu tố phạm pháp luật, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, vi phạm tiêu chuẩn không được tham gia lãnh đạo hội, cơ quan quản lý nhà nước có quyền ra văn bản yêu cầu hội sửa đổi điều lệ, yêu cầu bầu người đứng đầu khác. Nếu họ không chấp hành cơ quan quản lý nhà nước có quyền thu hồi giấy đăng ký hoạt động.

Điều 29: Khoản 2, 3 ,4 để đảm bảo Hội thực hiện nhiệm vụ quyền hạn được quy định tại Điều 22. Cần có các quy định trách nhiệm TẠO ĐIỀU KIỆN của các cơ quan quản lý nhà nước cụ thể:

  • Bổ sung: Chính phủ ban hành cơ chế thực hiện chức năng tư vấn phản biện của các Hội liên quan theo hướng quy định loại hình Pháp luật, đầu tư, quy hoạch… bắt buộc phải có tư vấn phản biện của tổ chức trước khi thẩm định. Một số loại hình hội được mời tham gia hội đồng thẩm định, đoàn giám sát.
  • Các Bộ, cơ quan quản lý nhà nước, ủy ban nhân dân các tỉnh ban hành, hướng dẫn các quy định để các tổ chức Hội tham gia các quyền quy định tại Điều 22 theo quy định của Chính phủ.
  • Chính phủ ban hành cơ chế chuyển giao dịch vụ công các tổ chức hội: về nghiên cứu khoa học, đào tạo, thông tin, phổ biến kiến thức, cấp chứng chỉ hành nghề.

Chương V: Đề nghị viết gọn lại vì theo Điều lệ đã có đủ, chỉ giữ lại phần liên quan đến chức năng quản lý nhà nước. Đặc biệt bỏ việc công nhận điều lệ, người đứng đầu.

  • Vấn đề tài chính của Hội tại Điều 26 khá đầy đủ, tuy nhiên còn thiết yếu tố thu và chi từ các tổ chức nước người. Trong điều kiện hội nhập hiện nay các tổ chức hội đang tham gia nhiều tổ chức hội quốc tế trong đó có việc thực hiện nghĩa vụ và hưởng lợi từ tài chính của các tổ chức này, cụ thể:
  • Nguồn chi: Phải tham gia vào phí đóng lệ phí hằng năm, nguồn kinh phí phải đóng góp khi tham gia các chương trình dự án hợp tác, các cuộc tổ chức hội thảo, triễn lãm quốc tế.
  • Ngược lại các Hội cũng có được nguồn thu từ các hoạt động tương tự được tổ chức tại Việt Bam khi Việt Nam đăng cai, chủ trì dự án, các cuộc hội thảo, đăng cai tổ chức hội nghị…

Vì vậy cần bổ sung vào Điều 26 các nguồn thu và chi này. Vấn đề là phải công khai minh bạch, đúng pháp luật (để không bị lợi dụng vì những mục đích có hại đến chủ quyền lợi ích quốc gia ngay trong quy định hiện hành thì việc báo cáo nguồn thu từ nước ngoài cũng phải được báo cáo đầy đủ về nguồn thu và giải trình những mục đích chỉ từ nguồn thu này).

  • Việc liên kết, gia nhập của Hội với Hội nước ngoài

Trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay các hội và cá nhân đã gia nhập hội viên các tổ chức hội quốc tế với hình thức đa phương và song phương.

Vì vậy không nên đưa vào Điều 5 là: phải là Trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định. Vừa không phù hợp với thông lệ quốc tế vừa dễ hiểu lầm về quyền của công dân, tổ chức khi tham gia các hội. Để tăng cường quản lý nhà nước thì chỉ cần ghi vào luật là “Khi gia nhập vào các tổ chức hội quốc tế thì hội, hội viên phải báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước theo quy định”.

Liên quan đến vấn đề tham gia của người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài ở Việt Nam vào tổ chức Hội nên khuyến khích trên tinh thần hợp tác, hòa nhập quốc tế theo hình thức hoàn toàn tự do như hội viên là công dân Việt Nam, hoặc tối thiểu cũng cho phép gia nhập, kết nạp với danh nghĩa Hội viên liên kết (Chỉ trừ khi họ không có quyền biểu quyết và không tham gia lãnh đạo tổ chức hội).

  • Vấn đề cán bộ công chức nhà nước tham gia Hội: Việc này đã được quy định tại Khoản 3, 4 Điều 8.

Tuy nhiên tại Khoản 3 đoạn cuối “… Khi được cơ quan có thẩm quyền phân công” nên sửa đổi mềm hơn là “Khi được cơ quan trực tiếp quản lý đồng ý”. Vì nhiều trường hợp do hội viên tín nhiệm, hoạt động chủ yếu là ngoài giờ (Như Hội Toán, Hội Vật lý, Hội Cờ…) thì không nhất thiết phải được cơ quan có thẩm quyền phân công.

  • Luật và Nghị đinh hướng dẫn

Luật ban hành cần hạn chế tối đa việc giao Chính phủ ban hành Nghị định, Thông tư hướng dẫn để tránh tình trạng lạm quyền, đưa ra các quy định trái luật, luật không quy định. Nếu có điều nào giao chính phủ quy định thì cần ghi rõ trong Luật (chủ yếu là những điểm bị thay đổi theo thời gian mà thôi). Ví dụ điển hình Nghị định 45 CP quy định Đại hội nhiệm kỳ hết sức đơn giản. Nhưng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 03 lại đưa vào rất nhiều quy định hết sức vô lý nhiều quy định gây khó khăn hơn cả thủ tục lập và Đại hội thành lập.

  1. Kết luận

Luật về Hội với nội dung các quy định Pháp luật nhằm đảm bảo quyền LẬP HỘI của công dân Việt Nam theo quy định Hiến pháp với đối tượng áp dụng rất lớn, dự thảo Luật đã 2 lần đưa ra thảo luận tại Nghị trường Quốc hội nhưng vẫn chưa được thông qua chủ yếu có sự khác biệt về nội dung liên quan đến hai chủ thể cơ bản là Quản lý nhà nước và quyền và sự tạo điều kiện cho các quyền của Hội. Luật dự thảo đã tập trung vào các nhiệm vụ của hội phải làm phục vụ cho quản lý nhà nước (Nhiều người nói rằng với nội dung như vậy thì nên đổi tên là LUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘI). Ngược lại nhiệm vụ,  cơ chế, chính sách của cơ quan quản lý nhà nước đảm bảo tạo điều kiện cho Hội hoạt động đều rất ít được đề cập. Nếu không giải quyết được 2 nội dung này thì Luật sẽ không phát huy hiệu quả trong xã hội đặc biệt là những hiệu quả của tổ chức hội trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Chúng tôi mong rằng những ý kiến đóng góp trước và trong quá trình Chính phủ trình dự án Luật, quá trình tranh luận góp ý tại Hội trường Quốc hội, và các ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, các tổ chức Hội thông qua các cuộc tọa đàm, hội thảo, văn bản góp ý sẽ được cơ quan quản lý, Ban soạn thảo nghiên cứu tiếp thu để Luật về Hội sớm được thông qua.

Theo NGƯỜI XÂY DỰNG (số tháng 3 & 4 / 2018)

Check Also

18-1_UMTJ

Thư mời viết tham luận Hội thảo

HỘI QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VIỆT NAM HỘI QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐÔ …