Home / CHÀO XUÂN 2019 / Giai thoại ở phố cổ Gia Hội

Giai thoại ở phố cổ Gia Hội

Nằm phía Đông Nam kinh thành Huế, khu phố cổ Gia Hội là vùng đất có nhiều giai thoại được lưu truyền.

IMG_0025

Khuôn viên chùa Diệu Đế, tương truyền là nơi vua Thiệu Trị ra đời

Giai thoại về nhà Nguyễn

Đầu tiên phải kể đến chùa Diệu Đế ở đường Bạch Đằng. Tương truyền vùng đất xây chùa là nơi vua Thiệu Trị ra đời và cũng là tiềm để của vua. Cho nên sau khi lên ngôi vua, vua Thiệu Trị đã cho xây dựng chùa và đặt tên là Diệu Đế. Diệu Đế là ngôi Quốc tự thứ ba ở Huế và được vua Thiệu Trị liệt hạng là một trong hai mươi thắng cảnh của đất thần kinh.

Ở đường Chi Lăng thì có Phủ Thọ Xuân. Thọ Xuân Vương (1810 – 1886) là con trai thứ ba của vua Minh Mạng. Ông nổi danh về thơ và ứng đối. Theo nhà nghiên cứu Huế Nguyễn Đắc Xuân: Năm 1842, Thọ Xuân Vương được theo vua Thiệu Trị ra Bắc làm lễ tuyên phong. Ngày chánh lễ, sứ Thanh đi kiệu vào thẳng cửa Chu Tước, các quan đón tiếp không ngăn được, Thọ Xuân Vương nghiêm sắc mặt thét bảo đứng lại, sứ Thanh mới xuống ngựa thong thả đi vào. Về Huế, ông được vua Thiệu Trị ban tặng cho một viên ngọc để đeo, trên có khắc 4 chữ “Đặc dị quyền hưu”, nghĩa là yêu thương che chở đặc biệt. Ở trên con đường này còn có giai thoại về Phủ Thoại Thái Vương. Tên thật của Thoại Thái Vương là Hồng Y (1833 – 1872), con thứ tư của vua Thiệu Trị. Lúc nhỏ ông thông minh, dĩnh ngộ khác thường, lớn lên giỏi thơ nên được vua cha rất thương yêu. Có giai thoại kể lại rằng, vua Tự Đức rất tự hào về tài năng của mình thế mà đã phải thú nhận khi so sánh với Thoại Thái Vương rằng: “Thẹn rằng ta chẳng ngang bằng, Nhờ hơn bốn tuổi mà thành ta anh”. Thoại Thái Vương chính là cha của vua Dục Đức, cháu nội và chắt nội của ông là vua Thành Thái và vua Duy Tân.

DSCN0046

Chiêu Ứng từ và vụ án “Hải tặc” thời Tự Đức

Ở đường Chi Lăng còn có Chiêu Ứng Từ. Kiến trúc tâm linh này nằm gần chợ Cồn Phú Cát, do Hoa thương phố Gia Hội xưa quyên góp sửa ngôi chùa cổ đã sụp đổ vào năm 1887. Năm 1908, ngôi đền được trùng tu và có tầm vóc như ngày nay. Đây là ngôi đền ghi dấu một vụ án vào đời Tự Đức.

Vụ án diễn ra vào mùa hè năm Tân Hợi (1851), khi vua Tự Đức đọc được tờ tấu do Bộ binh chuyển lên báo Chưởng vệ Phạm Xích, Lang Trung Tôn Thất Thiều tâu trình đã đánh đuổi ba tàu hải tặc ở vùng biển Quảng Nam – Quảng Ngãi, rằng quan binh đã bắn chìm một chiếc, một chiếc bị quan binh áp sát, giết được rất nhiều hải tặc, thu tàu giải về neo tại vụng Chiêm Dữ, một chiếc bỏ chạy về phía đông, xin báo công để triều đình ban thưởng. Vua Tự Đức xem xong tờ tâu liền sinh nghi vì đánh nhau với hải tặc mà lính tráng chẳng ai bị thương tích gì, còn phía bên kia thì chết sạch không một người bị bắt làm tù binh. Vụ việc nghiêm trọng nên vua Tự Đức nhấc bút châu phê vào tờ tấu: “Giao qua Bộ Binh điều tra cho rõ sự tình”.

Liền sau đó Quan Thượng thư Bộ binh phái thuộc cấp đi khám xét. Vài ngày sau, thuộc cấp đi về phúc trình rằng chiếc tàu giặc biển giống thuyền buôn hơn là tàu giặc. Ngay lúc ấy, một phụ nữ Hoa kiều đến nha môn xin cáo giác. Nguyên bà là Hoa kiều, làm nghề tiệm ăn ở phố Gia Hội, lấy chồng cũng là Hoa kiều về nước bặt tin đã lâu. Nhưng khi viên đội trưởng trong vệ Tuyển Phong tên Trần Hựu đem bạn bè về chiêu đãi tại quán bà nhưng không đủ tiền trả nên rút chiếc nhẫn cầm tạm bảo thối tiền mặt. Bà chủ thấy nhẫn ngờ ngợ, xem kỹ nhận ra bảo vật của chồng liền vặn hỏi. Trần Hựu lúc đầu tìm cách chối, sau chịu theo bà đến nha môn trình việc. Hoá ra y là thủ hạ của Tôn Thiết Thiều.

Trước mặt quan Bộ binh, Trần Hựu cung khai rằng ngày 17/6/1851, thuyền quan đậu ở cửa Thi Nại, được tin có ba chiếc thuyền lạ đậu ngoài hải phận đảo Thanh Dư. Chưởng vệ Phạm Xích và Thi lang Tôn Thất Thiều lập tức đuổi theo bắn và áp sát để bắt. Mặc dù đã trình thẻ nhà buôn nhưng 108 người Hoa trên tàu bắt được đều bị chém chết rồi đem quăng xuống biển mất xác. Ngoài ra sau đó còn tìm thấy một người khác trốn dưới đáy khoang. Bị phát giác, người này chạy thoát lên boong, phóng xuống biển mất tích. Toàn bộ hàng hóa trên chiếc tàu buôn của người Hoa được chuyển sang chiếc Bằng Đoàn của quan binh rồi chiếc thuyền buôn được sơn lại toàn màu đen để trông như tàu hải tặc và dẫn về vụng Chiêm Dữ.

Trước công đường, bà chủ quán ở phố Gia Hội kêu oan rằng chồng bà cùng nhiều bạn khác thuộc các bang ở Huế và Quảng Nam, Quảng Ngãi nhân về nước thăm quê nhà ở Hải Nam đã kết hợp đi buôn, có giấy phép của trên cấp. Vậy mà nay lại bị chết oan mà còn mang tiếng là hải tặc. Quan Thượng thư Bộ binh sau khi gọi thêm nhân chứng điều tra, làm tờ tâu, nói bọn Xích giết càn và mạo xưng công lại. Vua Tự Đức thịnh nộ, phê giao Ty Tam Pháp xét xử. Thiều chủ mưu, bị đổi theo họ mẹ (Đặng), cùng Xích đều bị xử tội lăng trì, vợ con phải phát phối; Dương Cù đồng loã, xử tội trảm quyết; Trần Hựu biết thú nhận khi chưa tra khảo nên được tha. Bản án dâng lên, vua Tự Đức châu phê chuẩn ngay, còn xuống chỉ truy thu tang vật trả lại thân nhân những người bị hại. Do đó, hằng năm vào độ rằm tháng sáu âm lịch, kể khi Chiêu Ứng Từ xây xong, thân nhân các nạn nhân Hoa kiều sống tại Việt Nam hay từ Hải Nam, cũng như người Hoa kiều từ các nơi quy tụ về đây để làm lễ tưởng niệm, thường thường lễ kéo dài đến ba ngày. Truyền thống đó vẫn còn lưu giữ đến ngày nay.

Có thể nói rằng, bản án của vua Tự Đức phê chuẩn không những đã minh oan cho nạn nhân của vụ án “Hải tặc” mà còn cho thấy pháp luật Việt Nam nghiêm minh, không phân biệt một ai. Bản án còn thể hiện được sự sáng suốt của vua Tự Đức trong bang giao với Trung Quốc, nhất là trong chính sách bảo vệ ngoại kiều đến làm ăn, buôn bán với nước ta, làm cho nước ta không bị Trung Quốc có cớ gây khó dễ về mặt chính trị.

Giai thoại trong dân gian

Chúng tôi tìm đến di tích Thanh Bình Từ Đường nằm sâu 50m trong kiệt 281, đường Chi Lăng, thành phố Huế. Được biết, ngôi từ đường được xếp hạng di tích văn hóa cấp quốc gia từ năm 1992. Khuôn viên ngôi từ đường rộng 339,9m2 (theo bản đồ địa chính của UBND phường Phú Hiệp, TP. Huế) với bức tường bằng gạch và vữa bao quanh. Nhưng theo người dân địa phương thì ngày xưa Thanh Bình Thự rất rộng, hầu như bao trọn cả kiệt 281 Chi Lăng. Xóm Thanh Bình cũng được gọi là “xóm Hát Bội”.

IMG_0688

Đoàn hát bội – cải lương tuồng cổ Ngọc Khanh từ miền Nam ra biểu diễn tại sân

Thanh Bình Từ Đường

Ông Trần Ngọc Lợi (89 tuổi), người giữ hương khói ngôi từ đường đã hơn 60 năm nay cho biết Thanh Bình Thự được xây dựng vào năm Minh Mạng nhị niên (1821) để dùng làm nơi luyện tập cho những nghệ nhân thuộc đội hát Bội Việt Tường trong cung cấm. Một trong hai tấm bia đá trước sân từ đường đã nói về sự việc này.

Khó có ngôi từ đường nào ở Việt Nam có một hệ thống thờ cúng tâm linh phong phú và đa dạng như ở ngôi từ đường này. Đầu tiên, ở gian chính giữa vách tường sau từ đường là bàn thờ Tam vị thánh tổ có công khai hóa nền văn hóa dân tộc và các vị đại vương tiền khai canh, hậu khai canh. Bên trái của các vị thần này lần lượt là bàn thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Ngũ vị Sơn thần và bên trái lần lượt là bàn thờ Ngũ Thánh, Tổ ngành Tuồng. Hai bên tả hữu trong ngôi từ đường là nơi thờ 12 vị tổ nghề (mỗi bên 6 vị). Đó là các tổ thợ rèn, thợ may, thợ nông nghiệp (2 vị), thợ nề, thợ mộc, thợ kinh doanh, buôn bán, làm ăn (2 vị), thợ máy (2 vị), thợ vàng, thợ bạc (Cao Đình Độ, Cao Đình Hương). Chính giữa từ đường là bàn thờ vị Tổ anh hùng có công với dân tộc và các vị tổ ngành xướng ca của cả nước (chèo, cải lương, hát bội…).

Ông Lợi kể giai thoại về vị tổ anh hùng dân tộc ở bàn thờ chính từ đường với cách biểu đạt rất hùng hồn lẫn bi tráng. Ông kể vị Tổ anh hùng dân tộc được thờ ở gian chính giữa đầu tiên là một vị tướng Việt Nam đã qua thi võ bên Tàu. Vua Tàu đã hống hách ra một điều kiện: nếu đánh thắng võ sĩ của của ông ta thì sẽ được làm phò mã, hưởng vinh hoa phú quý. Ngược lại nếu thua thì sẽ bị chém đầu trước sân rồng nhằm hạ nhục người nước Nam. Vị tổ anh hùng nhận lời và đã nhấc tên võ sĩ Tàu lên qua vài thế võ, quay nó như quay dế và xé tên võ sĩ ra làm hai mảnh. Sau đó, vì không về được quê hương ông đành phải tự tử ở sông Hàn Giang. Lăng của ông hiện vẫn ở núi Ngự Bình, thành phố Huế.

IMG_0647

Thanh Bình Từ Đường, nhà thờ tổ hát bội cả nước

Bên ngoài ngôi từ đường còn có 2 án thờ ở hai bên tả hữu. Án bên trái thờ các nghệ nhân quá cố như Đào Duy Từ. Án bên phải thờ các anh hùng quá cố, nghĩa sĩ trận vong. Theo ông Lợi, hai án thờ này tuy được thờ ở ngoài nhưng rất quan trọng trong hệ thống tâm linh của ngôi từ đường.

Ngoài thế giới tâm linh huyền ảo của ngôi từ đường và kiến trúc cổ của nó, du khách đến đây còn được dịp chiêm ngưỡng về những văn bia thời vua Minh Mạng, bức hoành phi của vua Tự Đức và các sắc phong của vua Khải Định.

Những điều thú vị khác

Du khách cũng nên ghé thăm chùa Tăng Quang (dân địa phương gọi là chùa Áo Vàng) toạ lạc tại đường Nguyễn Chí Thanh. Ngôi chùa tuy chỉ có hơn 60 năm tuổi nhưng lại là địa điểm đánh dấu sự hình thành Phật Giáo Nam Tông trên đất Huế. Đến thăm chùa, du khách có thể chiêm ngưỡng ngôi Bảo tháp thờ Xá-lợi Đức Phật Thích Ca và 2 cây sala to nhất, đẹp nhất Huế. Cây sala hay còn gọi là cây “vô ưu”, là loài cây gắn với hình ảnh của Đức Phật lúc Người nhập niết bàn.

DSCN1400

Chùa Tăng Quang với 2 cây sala to nhất, đẹp nhất Huế

Cũng phải kể đến ngôi nhà thờ họ Kim Hoàn nằm ngay mé sau, bên phải chùa Diệu Đế. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, nhà thờ họ Kim Hoàn là nơi thờ hai ông tổ nghề thợ vàng thợ bạc Cao Đình Độ và Cao Đình Hương. Từ thời Quang Trung cho đến đầu triều Nguyễn, hai ông là những người thầy đầu tiên truyền nghề thợ vàng thợ bạc ở Thuận Hóa. Môn đệ của hai ông phần lớn xuất thân từ làng Kế Môn huyện Phong Điền, hiện nay còn có mặt khắp các tỉnh miền Nam Việt Nam. Một số thợ sang tận nước Mỹ hành nghề và rất thành công. Cùng với nhà thờ họ Kim Hoàn, lăng mộ của hai ông Cao Đình Độ và Cao Đình Hương ở phường Trường An đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử quốc gia.

Bên cạnh đó, cũng phải kể đến đền thờ Đức Thánh Trần ở đường Chi Lăng. Đền thờ này được ông Phạm Tam, một người dân Huế xây dựng năm 1932. Ông Phạm Tăng đã lặn lội ra nơi thờ Đức Thánh Trần ở miền Bắc xin thỉnh một cây kiếm, một cây roi về. Sau đó, ông còn thuê thợ về đúc tượng Đức Thánh trong vòng 6 tháng, đúc voi, ngựa trước sân đền. Ngày giỗ Đức Thánh hàng năm cũng là ngày con cháu trong dòng tộc họ Phạm tề tựu, tưởng nhớ về công lao bảo vệ giang sơn bờ cõi của bậc hiền nhân.

Kế đó là ngôi chùa cổ Trường Xuân. Chùa Trường Xuân nằm ở đường Chi Lăng, thuộc Phường Phú Hậu. Đây là một ngôi chùa cổ lập từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (thế kỷ 17) với tên gọi ban đầu là Kỳ Viên Am. Đến thời nhà Nguyễn lại đổi là Xuân An Tự năm 1804. Điều thú vị là khám thờ của chùa không thờ Phật mà lại thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thánh Mẫu và Quan Công.

IMG_0093

Tổng hội Thiên Tiên Thánh giáo với tín ngưỡng độc đáo

Năm 1965, Tổng hội Thiên Tiên Thánh Giáo ở đường Chi Lăng ra đời. Cứ vào độ “xuân thu nhị kỳ” (tháng 3, tháng 7 Âm lịch), những tín đồ Thiên Tiên Thánh Giáo khắp nơi lại tập trung về Tổng hội để chuẩn bị cho việc tham gia lễ hội điện Huệ Nam. Xuất phát từ bến thuyền Tổng hội, những chiếc bằng (là những chiếc thuyền ghép lại) đủ màu sắc đông dần lên và nối đuôi nhau ngược dòng Hương Giang đến điện Huệ Nam (núi Ngọc Trản, làng Ngọc Hồ, xã Hương Hồ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên – Huế), tạo nên một cảnh tượng hoành tráng không có lễ hội sông nước nào ở Thừa Thiên – Huế sánh kịp. Theo quan sát, Tổng hội Thiên Tiên Thánh Giáo do mới được xây vào thập niên 60 của thế kỷ XX và may mắn không bị chiến tranh tàn phá nên những kiến trúc tâm linh vẫn còn khá nguyên vẹn. Đó là ngôi điện thờ chính rất bề thế với hệ thống thờ cúng rất phong phú, chiếc đại hồng chung từ thời nhà Nguyễn đánh vào âm rất vang, hang động thờ cúng bí hiểm, hệ thống am miễu thờ độc đáo, tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát hướng ra sông Hương nhân từ che chở cho cư dân vùng sông nước Thừa Thiên – Huế…

DSCN1846

Ngọc Sơn Công chúa từ là nơi cư ngụ của nhà Huế học Phan Thuận An

Đặc biệt, du khách không nên bỏ qua Ngọc Sơn Công chúa từ tọa lạc trên khu đất rộng đến trên 2.600m2 ở đường Nguyễn Chí Thanh. Nhà thờ Công chúa Ngọc Sơn là một ngôi nhà cổ, trước có non bộ, ra xa hơn nữa có hồ hình chữ nhật khá rộng. Trong phủ còn lưu giữ được nhiều hiện vật cổ. Phủ thờ hiện được người cháu rể của công chúa là nhà Huế học nổi tiếng Phan Thuận An chăm sóc. Đây còn là một khu nhà vườn cổ tiêu biểu của Huế xưa.

Cuối cùng là ngôi nhà của một gia đình người Ấn Độ theo đạo Hinđu ở ấp Đông Tri Thượng xưa (nay là đường Chi Lăng, đoạn giao nhau với đường Nguyễn Du thuộc phường Phú Cát). Theo PGS.TS Nguyễn Văn Đăng (Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Huế) thì đây là ngôi nhà có kiến trúc duy nhất thuộc loại này ở Huế.

Do đó, nếu được quan tâm, đầu tư hiệu quả về mặt du lịch và bảo tồn, chắc hẳn khu phố cổ Gia Hội sẽ là “mỏ vàng” để nâng tầm du lịch Huế.

Bài và ảnh NGUYỄN VĂN TOÀN

(Đô thị & Phát triển số 76 – 77/2019)

Check Also

anh Trần Lê

Tết Việt ở Đức

Đã ghét Tết thì chớ, bọn Tây mất gốc cứ chốc lại sắp Tết chưa …