Home / VĂN HÓA ĐỜI SỐNG / HƯƠNG TẾT NGÀY XƯA

HƯƠNG TẾT NGÀY XƯA

Tết có hương vị gì da diết nhất cũng không ai chỉ định cho được rõ ràng: là không khí lạnh cắt da cắt thịt, hay là những cơn mưa xuân lất phất bay không đủ làm ướt tóc. Nghĩ đến Tết là thấy hình ảnh đào mai khoe sắc, bánh chưng xanh, câu đối đỏ, phong bao lì xì cho người già, trẻ con…đều phấn khởi. Sâu đậm trong trí nhớ là đêm 30 giá rét, nhà nhà, người người quây quần bên bếp lửa cháy bùng bùng trông nồi bánh chưng sao cho kịp chín để thắp hương vào lúc giao thừa.

goi-banhMỗi năm từ 23 tháng chạp, nhà nào nhà nấy trồng cây nêu trước cửa, trẻ conquét cổng ngõ sạch tinh tươm bằng chổi tre, chổi giang, chổi rơm, chổi chít (cả cây chổi cũng mang hồn tự nhiên cây cỏ chứ không có chổi nhựa xanh đỏ, tím vàng như bây giờ), quét xong thì vun lá cây lại đốt trước cổng nhà, khói theo gió đi khắp xóm, bay là đà, làm đám trẻ con đang thích thú xúm quanh  đống lửa cay mắt. Những người đàn ông trong gia đình đi lấy vôi về quét trắng xóa cả gốc cây, và dùng vôi đó vẽ cung tên trừ tà trước cổng. Vẫn là trẻ con xúm quanh reo hò đầy khí thế! Thực phẩm ngày Tết không có gì khác là thịt gà và thịt lợn, thịt lợn làm bánh chưng, thịt lợn làm chả, thịt lợn làm đông lạnh để ăn với dưa, kiệu chua cay…Lợn lang hồng, lợn Móng Cái, lợn lai kinh tế mỗi nhà có một hai con nuôi ròng rã cả năm bằng cơm thừa canh cặn và công sức nhặt nhạnh rau cỏ của lũ trẻ sau giờ đi học, con nào con nấy béo mũm mĩm hồng hào. Các nhà cắt lượt và chia nhau đụng lợn gói bánh, gói giò, lấy thịt rán mỡ, nấu đông, canh măng, canh miến, mộc nhĩ nấm hương. Giành dụm cả năm cho ba ngày tết nên trong nhà có gì thì mang ra nấu thành cỗ hết. Chao ôi! Ngày Tết cỗ sao mà nhiều, mà vui: làm cỗ cúng gia tiên, làm cỗ tất niên, làm cỗ gia đình, họ hàng, làm cỗ đãi khách, phụ nữ đảm đang chiều con, chiều chồng nên trổ hết tài nội trợ trong mấy ngày tết, không có món ngon nào mà không nấu. Mùi thức ăn quyện với mùi nhang khói tạo cho lòng người cảm giác khó tả: không chỉ là ẩm thực mà còn là sự thành kính, thiêng liêng, là tinh hoa của cả năm ở cả trong bữa cơm mẹ nấu. Thơm đến tận bây giờ…

Nhà nào có ao là be bờ tát ao bắt cá. Trẻ con đứng trên bờ hong hóng, chăm chú rồi hò nhau xem con cá nào to nhất. Những ngày đông giá, đứng trên bờ nhìn các bác các chú cởi trần tát ao, giăng lưới bắt cá, mò ốc, vét ao, rắc vôi, lật cỏ, mùi bùn đất bốc lên nồng ấm, cảm thấy không còn biết lạnh. Cá tát được hiếm khi ra đến chợ, cả xóm chia nhau ướp, kho, muối ăn dần. Bố tôi có tài ướp cá với thính. Ông chọn con cá mè hay trôi, trắm to chừng hai ba cân, lọc bỏ đầu và xương. Gạo nếp rang vàng, giềng giã nhỏ, muối trắng rang khô giã nhỏ, lá chuối tây, lạt dong…chỉ thế thôi mà là mươi hôm sau là được một món ngon nhất trên đời. Nhắc đến là nghe mùi thơm của cá ướp thính như còn phảng phất đâu đây. Chục năm bố tôi đi xa, chục năm chưa từng gói lại…

nguyen-lieu-nau-banh-chungĐến 28, là ngày hàng xóm bắt đầu gói bánh chưng, củi gỗ cả năm được các anh mang ra bổ xếp đống trước sân. Thùng phuy, nồi Liên Xô, miễn cái gì luột được chục bánh trở lên là huy động luộc bánh. Các mẹ đi chợ từ 26, 27 mua lá dong xanh, thịt lợn đỏ hồng treo trên giá được mang xuống. Đỗ xanh ngày đó chưa được bóc sẵn vỏ rồi đóng vuông vức trong từng gói như bây giờ, đỗ xanh nguyên hạt tròn xoe mang ra ngâm nước, xoa vỏ tỉ mẩn cho đến khi vỏ đỗ tróc hết ra chỉ còn nhân đỗ xanh ngà ngọc. Các chị được giao rửa lá, vo gạo, đãi đỗ…Bố chẻ lạt, mẹ tước lá, những nong gạo nếp trắng như tuyết, vo sạch, xóc muối để ráo, thịt thái to bản ướp hạt tiêu và muối thơm lừng. Ở nhà, bố tôi hay gói bánh, tay đàn ông nén bánh chặt và vuông vức, đẹp như tranh. Thế nào cuối cùng cũng có chục bánh nhỏ xinh cho các con. Thường khi gói xong là ba bốn giờ chiều, bắc bếp lên rồi nổi lửa và từ đó, trẻ con được giao nhiệm vụ trông nồi bánh chưng, thêm nước, giữ lửa cho đều.

Từ nhỏ đến khi đi học xa, cứ tết đến là tôi được bố giao trông bánh, trẻ con, đứa nào cũng nghĩ mình có thể chơi suốt đời mà không cần ngủ, kỳ thực là trông nồi bánh, ngồi cạnh đống lửa ấm khoảng 10 tiếng là buồn ngủ rũ. Bếp luộc bánh không bao giờ chỉ để luộc bánh, mà còn là nơi vùi khoai, sắn để nhấm nháp. Khoai, sắn, củ dong…vùi gio nóng, đặt chậu lá mùi lên trên làm nồi nước thắm lá thơm tẩy trần. Ăn khoai vùi đợi vớt bánh…Sáng dậy đã thấy bố vớt bánh từ lúc nào, xếp tinh tươm thành từng cặp, màu xanh biếc và vuông vắn. Bao giờ cũng chọn đôi bánh đẹp nhất để trên bàn thờ cúng ông bà, tổ tiên. Mùi hương trầm thơm khắp xóm.

29 tết, bố đi chọn cành đào, có năm đào lạnh quá, nhất định không chịu ra hoa, bố chặt cành mận trắng già mốc, nhà có cái bình đất nung cổ lọ, mang vào cắm, mùi hoa mận thơm dịu dàng phải tinh ý lắm mới thấy thoảng qua. Trên bức vách mẹ treo mấy bức tranh mua ở chợ: thằng bé ôm con gà, cá chép hóa rồng, đàn lợn âm dương, đám cưới chuột. Hoa đồng tiền đơn giản nhưng đầy màu sắc xanh, đỏ, hồng, da cam, thêm màu vàng chói lóa của cúc đại đóa, hồng leo mơn mởn bố trồng dọc lối đi nở tưng bừng đón xuân…

xe-hoaThương tết xưa biết mấy, lúc ấy chỉ là nhà tranh tre nứa lá, cơm ngày thường chả đủ ăn, độn sắn độn khoai mà tết nhất là bố mẹ lo cho con đầy đủ ăn uống, áo hoa quần mới, dạy các con biết thờ cúng tổ tiên, lau bàn thờ, đánh ấm chén bằng tro bếp trắng tinh, cổng ngõ quang đãng sáng bừng, và nhất nhất khách đến nhà đều mặt hoa cúi đầu vòng tay chào đón. Giao thừa xưa còn đốt pháo. Bố mua mấy bánh pháo Bình Đà dài ơi là dài, nổ thật giòn giã. Canh giờ dến 12h là bố tôi treo lên trước cửa, pháo uốn lượn mềm mại như một con rắn hồng rồi châm lửa đốt, tâm niệm để xua duổi tà khí và đón chào năm mới. Dành lại một hai bánh để sớm mai mùng một và mùng ba hóa vàng đốt tiếp. Lễ cúng giao thừa mẹ đã sắp từ tối, con gà vàng óng và đĩa xôi hoa cau, chục tiền vàng, đĩa muối lát gừng, trầu cau trà rượu, đĩa quả, gói bánh quy Hương Thảo đặt trong mâm nhôm đánh sáng loáng đầy kính cẩn. Đốt pháo, thắp hương xong rồi bố pha trà, mở rượu Chanh, bóc mứt và kẹo Hải Châu, nghe Bác Hồ chúc tết. Cái đài bán dẫn bé xíu được ông đặt trịnh trọng giữa bàn trên cá khăn bông trắng muốt. Sau ông cho các con khai bút, ông thường nói câu: Đầu năm khai bút bút khai hoa rồi đọc thơ cho con chép. Những lúc ấy thấy ông thật cổ hủ giờ nghĩ lại thương chảy nước mắt.

Giờ chẳng còn ai làm cây nêu, trang hoàng nhà cửa thì đồ bày biện nhiều vô kể, cũng nhiều màu sắc xanh đỏ tím vàng nhưng không còn là màu của cây nêu, câu đối mà là màu của bánh kẹo, rượu bia, mùi hương cũng khác xưa, thơm thanh lịch, đơn giản mà không cảm thấy sự ấm cúng. Đi làm nhà nước thì 28 tết mới được nghỉ, ai còn thời gian mà lặt lá, rửa từng mặt lá để gói bánh chưng? Chỉ cần ra chợ, hoặc nhanh hơn là một cú điện thoại thì bánh mang đến tận nhà. Tiện lợi biết bao nhiêu.

Tết xưa, gió đông bắc lạnh lùng, ăn miếng bánh chưng thơm lừng với cá kho hay thịt đông, miếng giò thủ, hay chân giò rút xương gói lá dong, thêm củ hành muối giòn tan, mấy lá thơm và quả ớt trong vườn, bát canh miến nấu lòng gà vẩy mấy cọng mùi. Hương tết sao mà nồng nàn đến thế! Hình như càng ngày thời tiết càng nóng, tết mấy năm nay ấm dần lên, trời nồm nên bánh chưng đi mua chả giữ được lâu, nếu không bỏ tủ lạnh bánh sẽ lốm đốm mốc trắng hay thiu chảy nước, bỏ thì tiếc của mà ăn thì không dám. Trẻ con chả còn háo hức áo mới, có chăng là mong tiền mừng tuổi và được nghỉ học. Bàn thờ các nhà thì đủ thứ, vẫn đầy hương sắc nhưng tuyệt nhiên chẳng còn như xưa. Mấy ngày tết mở truyền hình, xem phim, xem hài, vậy là cũng qua những ngày nghỉ.

Tết nay là như thế. Còn những người hay nghĩ, thì vẫn thương về tết xưa…

Tết này, nhà ai có còn lửa bập bùng để nấu bánh chưng xanh?

LAN HÀ

ĐT&PT SỐ 65/2017

Check Also

Dốc tình

DỐC TÌNH

     Đà lạt im lìm, Đà Lạt sao mà nhiều dốc, những con dốc …