Nhớ Rừng

Xe đang tiến dần lên đỉnh Hải Vân, lúc này sương mù đã phủ khắp núi đồi. Ngồi phía sau bác xe ôm, Tuấn co ro trong giá rét – hơi sương dày đặc, ướt đẫm như đi trong một cơn mưa bụi.

Xe chạy giữa núi rừng trùng điệp, một bên là vách núi bên kia là vực thẳm ngút ngàn. Ngang qua  một miếu thờ, bác xe ôm cởi mở với Tuấn:

– Đây là miếu thờ ông cọp, dân ở đây gọi là ông Hùm, ông ấy rất thiêng.

Bác chậm rãi:

– Mỗi người kể mỗi cách khác nhau về sự tích của Miếu thờ này, bác được nghe rất nhiều. Nhưng bác thích nhất câu chuyện ông Cọp cứu người.

Bác quay đầu mỉm cười:

– Con có biết vì sao không? Vì ai cũng muốn nghe, thấy và hy vọng những điều tốt đẹp, những kết cục tốt đẹp.

Tuấn cảm thấy ấm áp và phấn khích trước lời dẫn chuyện của bác. Bác kể:

Những năm tháng đói kém, cách đây khoảng 70 năm. Dòng người ồ ạt đi ngang qua đây. Trong đó có một thiếu phụ với đứa con nhỏ. Vì đói lả và bệnh tật lại sợ không theo kịp đoàn người, thiếu phụ đã bỏ đứa bé bên vệ đường. Và bầy cọp trên núi đã xuống nuôi đứa bé. Chúng cho bú, cho ăn trái rừng như nuôi chính con của chúng. Khi đứa bé đủ lớn và cứng cáp. Chúng đã cõng bé trên lưng đem giao cho dân làng. Thương nhất là cái đoạn ngày xưa bác nghe và nhớ mãi là, khi giao bé cho người, chúng đã không nỡ đi, cứ 4-5 bước là chúng ngoái đầu nhìn lại.

 Con người ta nghĩ cũng lạ, đức tin hay lòng tin đôi khi không cần kiểm chứng, không cần xác minh. Chính Tuấn trong lúc này đây như đang lạc vào cõi ma mị của rừng già. Tuấn nghe gió ngàn réo gọi, Tuấn thấy rừng thông đang thủ thỉ tâm sự với nhau và trước mắt là vực sâu núi thẳm. Hùng vĩ quá, thảo nào người ta không cảm thấy mình nhỏ bé và cần được che chở. Bởi lẽ đó từ rất lâu miếu thờ ông Hùm luôn là điểm đến tâm linh cho người đi qua lại trên đèo.

Qua đoạn đèo quanh co, bác chỉ tay lên một cánh rừng thông xanh rì, rồi lại chỉ về phía bên cheo leo vách núi

– Những cây thông ngần này tuổi là những cây được nhóm bác trồng từ những ngày trước đó!

Tuấn thấy khó nghĩ nên chồm người về phía trước

– Con không hiểu ạ!

Quay nhẹ đầu, bác cười

– Ngày trước tôi làm ở “Đội trồng rừng Hải Vân”, và bọn tôi đã trồng những cây thông này.

Câu nói của bác như tiếng chuông vang lên giữa rừng thiêng thanh vắng. Tiếng chuông dẫn hai con người đến với hai luồng suy nghĩ khác nhau. Họ dừng chân bên đèo, mắt ngước nhìn rừng thông.

 Cây đứng sừng sừng giữa trời giữa đất bao la, những nhánh cây như vẫy chào,  chúng như cười mừng trong gió, cho Tuấn một cảm giác yêu kính, cảm ơn người trồng rừng.

Còn bác ấy, kiêu hãnh đứng trước những cây thông xanh. Ánh mắt trìu mến và thân thuộc. Như người cha đi xa trở về, tự hào nhìn những đứa con yêu thương của mình.

 Châm điếu thuốc trong hơi sương lạnh. Bác chỉ về phía xa xa kia nơi có con dốc dài và hẹp, bác nói:

–  Mới đó mà đã 20 năm rồi. Bác chỉ tay

– Nơi con dốc này đây, chiều về bọn tôi đổ xe từ trên đỉnh, nhóm khoảng 60 người với 30 chiếc xe đạp. Một người chở một người. Những chiếc xe đạp cứ vùn vụt lao dốc đổ đèo, xe nối tiếp xe chạy vụt nhanh qua mặt luôn cả xe ca đang chở khách.

Hai con người, hai thế hệ, một người đang háo hức muốn được nghe, chuyện về một thời xây dựng – hàn gắn những vết thương của chiến tranh đã để lại trên “làn da thớ thịt” của đất nước. Một người đang sống dậy mãnh liệt với những ký ức ngày xưa, của một thời trai trẻ lao động và cống hiến. Rít một hơi dài thuốc lá:

– Đời của tôi, việc sống và làm những việc liên quan đến rừng như một định mệnh. Tháng 12 năm 1975 tôi làm ở đội trồng rừng Gò Cà, thuộc Lâm trường Hòa Vang, rồi vài năm sau tôi lại chuyển đến lâm trường khác. Mãi đến năm 1998, tôi với bả (vợ tôi bây giờ), về làm công nhân lâm trường cho đội trồng rừng Hải Vân. Chúng tôi làm việc và được hưởng lương theo sản phẩm.

– Công việc chính là trồng rừng. Để có cây con chúng tôi phải tự gieo hạt giống . Những loại cây chúng tôi trồng là thông KRB, thông Ba Lá, Bạch Đàn, Keo Lá Tràm.

Phả làn khói hòa quyện với hơi sương, bác chậm rãi:

– 5h30 sáng, chúng tôi bắt đầu khởi hành từ cơ quan, dụng cụ lao động và cây giống lúc này đã được bó chặt trên chiếc xe đạp, leo ngược lên đỉnh đèo khoảng 10 cây số. Tất cả sẽ cùng nhau làm từng công đoạn. Gồm có 4 công đoạn cho một quy trình trồng cây. Phát, đốt hay còn gọi là xử lý thực bì, đào và cuối cùng là trồng cây con. Cây con được trồng xuống, chúng tôi còn phải chăm sóc, thăm nom như làm cỏ, tém gốc… Đến 4 giờ 30 chiều chúng tôi thu đội, tôi chở bả, bả ngồi phía sau, ôm bó củi khô và mớ rau rừng tươi ngon nào là cải tàu bay, ớt rừng, môn rừng, bắp chuối, rau má. Chúng tôi đổ đèo, tiếng ca tiếng hát vang lên cả một góc rừng. Đó là những hôm làm việc trên đèo, còn hôm làm đường Hải Vân thì 4 giờ sáng chúng tôi đã bắt đầu đi. Từng cặp hai người, mang dụng cụ làm việc trên vai chúng tôi nắm chặt tay nhau đi trên đường ray tàu hỏa.

Nghiêng nghiêng mái tóc điểm bạc, bác khẽ cười như chợt nhớ ra điều gì, bác hỏi tôi

– Con có biết vì sao phải đi một lần hai người và nắm chặt tay nhau không? Tuấn trố mắt thật sự chưa hiểu. Bác nói

– Là để giữ thăng bằng cho nhau, vì đi trên đường ray sẽ rất khó nếu chỉ đi một người. Không đi trên đường ray thì chúng tôi sẽ bị đi rất chậm và đau chân vì phải đi trên đá dăm – một loại đá núi dùng để bảo vệ đường tàu. Khi về, chúng tôi sẽ tập trung tại ga Hải Vân Nam và quá giang tàu về ga Kim Liên.

– Công nhân lâm nghiệp của chúng tôi sau này khi không còn trồng rừng nữa một số đã sinh sống và ở lại đây. Bởi vậy ông bà ta có câu “Đến đây thì ở lại đây, khi nào bén rễ xanh cây thì về”. Bác lại híp mắt cười

– Lúc về thì chắc là lúc nhắm mắt xuôi tay đó con. Mỉm cười ra đi nhẹ nhàng, có lẽ đã hoàn thành một sứ mệnh.

Như chợt nhớ ra, bác nói

– À, cứ mùng 10 tháng giêng 2 năm một lần là anh em của đội trồng rừng Hải Vân gặp gỡ như một sự nhắc nhở về “truyền thống người gắn bó người với người, người với rừng”.

Rồi đôi mắt bác chợt ưu tư

– Gặp nhau vui có buồn có, vui vì thấy nhau còn khỏe mạnh buồn vì một số người giờ đã không còn.

Tuấn nói tránh sang chuyện khác

– Cái ngày xưa ấy, chắc vui lắm bác nhỉ?

Bác lại cười hiền

– Cái thời ấy chúng tôi sống đơn giản, vui vẻ và khỏe khoắn lắm. Hồi đó tôi hát nhiều và hát hay nữa. Đang làm việc mà có ai hò bắt nhịp là cùng nhau hát liền à.

Tuấn ngỏ ý muốn nghe bác hát lại một đoạn những bài hát mà ngày xưa nhóm làm việc của bác hay hát, bác nói

– Đó, những bài nhạc đỏ đó con. Chẳng hạn như bài “Con kênh ta đào”, “Hát về cây lúa hôm nay” nè mà chúng tôi hay hát nhất vẫn là bài “Lý trồng cây”.

Và ông hát lên trong bẽn lẽn:

“ Ba lý tang tình mà nghe ta hò, cùng nhau ta cuốc đất… Anh cuốc đất, em gieo hạt…”

Câu chuyện của bác như một bức tranh về những bàn tay xây dựng, đây là một trong những triệu triệu con người thầm lặng cống hiến bàn tay, khối óc, sức lao động để cho đời mãi xanh tươi.

Tự nhiên Tuấn nhớ tới một đoạn trong bài hát của nhạc sĩ Hoàng Vân:

– “… Bàn tay chiến đấu, bàn tay kiến thiết… Sắp xếp giang sơn, những bàn tay trung dũng kiên cường mở đường đi tới chân trời tươi sáng…”.

DU THƯỜNG

(Đô thị & Phát triển số 76 – 77/2019)

Check Also

maasai-mara-game-reserve3

Những thông điệp từ thế giới loài vật

Các động vật hoang dã đã có cách sống riêng, song hình như cách sống …