Home / CHÀO XUÂN 2019 / Những mùa xuân ấm áp của ngày xưa

Những mùa xuân ấm áp của ngày xưa

Khi những cơn mưa phùn lất phất rơi, để lại những hạt nước li ti, lấp lánh trên đám rau phía sau nhà; khi những cây mai trong vườn vừa chớm nụ, khi những trái quất sau hè bắt đầu ngả vàng; khi những mầm non đang e ấp chờ vươn lá mới… đó là lúc mùa xuân gõ cửa. Cả đất trời bừng lên một sức sống mới, rạo rực, phơi phới.

Ngay từ giữa tháng chạp, hoa tết bắt đầu lần lượt đổ về thành phố. Ngay lập tức, những con đường được nhuộm bằng những sắc màu rực rỡ của mùa xuân: màu vàng của hoa cúc, màu trắng của hoa ly, màu đỏ của loa kèn, màu tím của thạch thảo, màu hồng của đỗ quyên, màu xanh của đủ loại cây lá… Trên những gốc mai già, vài bông hoa nở sớm bắt đầu xòe cánh, vàng rực, e ấp…

vi-cua-mut-huong-cua-tet-xua

Cũng vào giữa tháng chạp, cả không gian tràn ngập hương mứt, ngọt ngào, ngây ngất đến nao lòng: Mùi mứt gừng nồng nàn, mùi mứt dừa ngan ngát, mùi va-ni ngào ngạt, mùi đường sên ấm áp… Những mùi thơm quyện vào nhau, làm ấm những đêm đông se lạnh.

Hồi đó, cùng với xóm giềng, nhà tôi cũng bắt đầu làm mứt. Những thứ mứt đơn giản nhất, dễ làm nhất như mứt dừa, mứt gừng, mứt bí, mứt cà rốt, mứt khoai lang… Nguyên liệu được mẹ mua từ đầu tháng chạp, cất dưới chạn, để dành tết. Khỏang hai mươi tháng chạp, mỗi tối, khi công việc trong ngày xong xuôi, mẹ trải chiếu, đặt trên đó nào rổ rá, dao kéo, xô chậu… Cả nhà xúm vào chuẩn bị: gọt khoai, nạo gừng, bào dừa, xắt bí… vừa làm vừa nói chuyện. Tiếng cười rộn rã khắp gian bếp nhỏ.

Công đoạn tiếp theo là “tạo hình” sản phẩm. Mẹ chọn ra những loại củ quả tốt nhất để mẹ làm mứt cúng và tiếp khách. Số còn lại, mẹ chia cho 3 chị em. Tùy theo trí tưởng tượng và tay nghề, mỗi đứa tha hồ sáng tạo những sản phẩm của riêng mình. Tôi tỉ mẩn khắc những bông hoa, cành lá từ cà rốt hay khoai lang… Sản phẩm của “cậu Ba” là những cái tàu bay, ô tô, xe lửa… từ bí đao hay gừng. Còn “cô Út” hí hoáy cắt cắt, xén xén, tạo ra những con vật bằng những thứ đầu thừa đuôi thẹo mà nếu Út không gọi tên, sẽ chẳng biết đó là chó, mèo, gà hay heo… Nhưng nhìn ánh mắt long lanh của Út khi đưa sản phẩm ra khoe, biết là “nhà điêu khắc” có vẻ tự tin với tay nghề của mình lắm.

Tôi vẫn nhớ những buổi tối mùa xuân ấm áp ngày xưa ấy, cả nhà ngồi quanh bếp lửa, hít lấy hít để mùi thơm ngọt ngào của những chảo mứt đang sôi lục bục. Mẹ ngồi bên chảo mứt, luôn tay khuấy đũa, đảo mứt, trộn đường… Bên ngoài, gió bấc rít từng cơn, xào xạc. Trên mái tôn, những hạt mưa phùn rơi nhè nhẹ, như những bước chân êm ái của mùa xuân. Sau khi xong việc dọn dẹp trên nhà, ba cũng xuống bếp kể chuyện cổ tích. Vẫn là những câu chuyện cũ như “Sự tích bánh chưng bánh dày”, “Sọ dừa”, “Tấm Cám”… năm nào ba cũng kể. Chúng tôi nghe đến thuộc lòng. Vậy mà năm nào cũng đòi ba kể lại, vẫn háo hức nghe, ba chặp lại hỏi: “Rồi sao nữa ba?” Cứ thế, tíu ta tíu tít đến tận khuya, dù buồn ngủ đến nỗi đầu cứ gật gù liên tục nhưng cả bọn nhất định không chịu rời bếp.

Đợi mãi rồi cũng đến lúc mứt chín. Mẹ khoắng những đũa cuối cùng, dồn những lát mứt đọng quanh mép chảo vào giữa rồi tắt bếp. Mẹ dùng hai cái nhấc nồi, xốc xốc mứt trong chảo vài lần trước khi đổ mứt ra những tờ báo được trải sẵn.

Cuối cùng, giây phút chờ đợi nhất đã đến: chúng tôi đưa tay nhận những “thành quả” của mình trong niềm vui khôn tả. “Bữa tiệc khuya” của cả nhà khi đó là ăn đến no, đến chán chỗ mứt vụn đáy chảo. Ôi chao! Sao mà ngon, mà ngọt ngào đến thế!

 Khoảng 28, 29 tháng chạp, một lần nữa, chúng tôi lại náo nức chuẩn bị gói bánh. Những buổi tối, mọi người lại quây quần dưới bếp. Ba chẻ lạt, mẹ đãi đậu, vo nếp, tôi và các em rọc cuống, phơi và lau lá… Hồ hởi và tràn ngập một niềm vui rạo rực rất trẻ con – niềm vui đón tết. Dạo đó, ba mẹ chỉ được nghỉ vào chiều ngày 30 tháng chạp (hoặc 29 tết, nếu tháng thiếu) nên chỉ có thể gói bánh vào lúc đó. Mẹ trải chiếu giữa nhà, đặt lên các thứ nguyên liệu đã chuẩn bị từ trước: nếp ngâm qua đêm, đậu xanh đãi vỏ đồ chín, thịt ướp gia vị… Chiều 30 tết, mọi thứ đã chuẩn bị xong xuôi, cả nhà cùng bắt tay vào gói bánh. Gọi là “cả nhà” nhưng thật ra chỉ có ba biết gói. Chúng tôi ngồi cạnh, chăm chú theo dõi từng động tác của ba, trầm trồ và thán phục nhìn những cái bánh chưng vuông vắn, những cái bánh tét tròn trĩnh… Đứa nào cũng háo hức chờ đến khi ba gói xong bánh lớn. Khi đó, bao giờ ba cũng dành lại ít nếp và nhân để gói cho mỗi đứa con một cái bánh nhỏ xíu buộc với một sợi dây lạt dài. Tùy theo sở thích của từng “khách hàng” mà ba “sẵn sàng phục vụ”: Chị cả là tôi muốn có bánh chưng, vuông thật vuông; cậu Ba bao giờ cũng ưng bánh tét, tròn và dài; còn cô Út nhõng nhẽo vòi ba làm cho cái bánh nửa vuông nửa tròn. Tưởng khó! Vậy mà ba làm ngay. Ba gọi đó là “bánh tày”. Út vui sướng cười toe toét, khoe cái bánh không giống ai của mình.

Đêm giao thừa, nồi bánh được bắc trong góc sân, chỗ kín gió nhất. Tôi trải cái chiếu nhỏ trước bếp cho mấy em cùng ngồi, vừa ngắm lửa vừa đẩy củi. Đêm 30, trời tối rất nhanh. Tuy vậy, cả góc sân sáng rỡ nhờ ánh lửa hắt ra từ bếp, thành một quầng sáng lung linh ấm áp. Mẹ kê thêm mấy hòn gạch, làm cái bếp phụ, bắc một ấm nước. Thỉnh thoảng, tôi cời than sang đó, cho thêm cây củi. Một lúc sau, nước trong ấm sôi sùng sục. Mẹ gọi từng đứa vào tắm tất niên, thay quần áo mới. Những bộ quần áo mẹ mua từ cả tháng trước đó, để dành mặc đón giao thừa.

banhchungkieugia1 copy

Năm nào cũng vậy, lúc mới bắc bếp, ba chị em xung phong canh bánh. Lúc đầu là ngồi cạnh bếp đẩy củi. Sau, mỏi lưng thì nằm xuống chiếu. Bếp lửa ấm quá nên chỉ khỏang nửa giờ sau, mắt đứa nào cũng trĩu xuống, ngủ ngon lành, vô tư đến nỗi quên mất “nhiệm vụ” quan trọng là canh nồi bánh.

Tiếng pháo giao thừa đùng đoàng khiến tôi giật mình, ngồi bật dậy, ngơ ngác hỏi mẹ: “Tối qua tụi con ngủ ngoài sân mà sao giờ ở trên giường, trong mùng vầy hả mẹ?” Mẹ cười âu yếm: “Ba bế vô chứ không mấy đứa đã trở thành món quà năm mới cho muỗi rồi!” Cả bọn nhìn nhau, cười khúc khích. Tiếng ba gọi to: “Các con đâu? Ra vớt bánh!”

Những cái bánh nhỏ được vớt trước, cho vào thau nước lạnh. Dù biết rất rõ bánh của từng người, ba vẫn giả bộ nhìn quanh, hỏi to: “Bánh của ai đây hè?” Lần lượt từng đứa đưa tay nhận bánh, mắt sáng rỡ, miệng cười toe: “Của con! Của con đó!” Những cái bánh tí hin được chúng tôi để dành, đeo lủng lẳng trước bụng, nâng niu suốt mấy ngày Tết.

Nhiều năm trôi qua. Những mùa xuân đến rồi đi!

Tết bây giờ không còn nhộn nhịp như tết xưa. Cuộc sống quá bận rộn nên cũng ít ai còn rim mứt, gói bánh, nấu bánh… như ngày xưa. Một nguyên nhân khác nữa là do ngoài chợ luôn tràn ngập các loại mứt tết, đủ loại, rất đẹp, rất bắt mắt. Bánh chưng bánh tét cũng được bán ê hề tại các quầy hàng, trên đường phố.

Tuy vậy, thành lệ, tết năm nào nhà tôi cũng rim mứt và nấu bánh. Bởi tôi không bao giờ quên những mùa xuân ấm áp của một thời thơ bé. Tôi muốn các con tôi được cảm nhận không khí ngày tết qua việc làm mứt, gói bánh, luộc bánh… như tôi đã từng cảm nhận một cách vô cùng háo hức, tràn ngập niềm vui của những ngày xưa. Bánh gói ở nhà dù có vất vả hơn, không đẹp bằng bánh bán ngoài chợ, nhưng chắc chắn là ngon hơn, rẻ hơn nhiều. Hơn thế, những việc chuẩn bị gói bánh như phơi và lau lá, vo nếp, đãi đậu… và đặc biệt là được quây quần bên nhau quanh nồi bánh trong đêm giao thừa luôn làm tất cả các thành viên trong gia đình háo hức với cảm giác gì đó rất vui, rất xuân và rất tết. Nhìn thấy những nụ cười rạng rỡ, những ánh mắt lấp lánh của các con tôi mỗi khi mùa xuân ngấp nghé bên cửa sổ, tất cả những lo toan và bận rộn trong cuộc sống hàng ngày, những khó khăn nhọc nhằn để kiếm tiền lo một cái tết rôm rả… dường như được đáp trả đủ đầy và trọn vẹn.

Cứ thế, những mùa xuân ấm áp lần lượt đến rồi đi. Nhưng những kỷ niệm đẹp đẽ vẫn luôn được lưu giữ trong ký ức của mỗi thành viên trong gia đình.

TRẦN THỊ GIAO THỦY

(Đô thị & Phát triển số 76 – 77/2019)

Check Also

anh Trần Lê

Tết Việt ở Đức

Đã ghét Tết thì chớ, bọn Tây mất gốc cứ chốc lại sắp Tết chưa …