Home / QUY HOẠCH - KIẾN TRÚC - XÂY DỰNG / QUY HOẠCH / THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ BỀN VỮNG – ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THOÁT NƯỚC CẤP THIẾT ĐỐI VỚI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ BỀN VỮNG – ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THOÁT NƯỚC CẤP THIẾT ĐỐI VỚI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

I. HIỆN TRẠNG THOÁT NƯỚC VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI TP. ĐÀ NẴNG

  1. Đối với hệ thống thoát nước thải.

Hệ thống thoát nước thải hiện có ở TP. Đà Nẵng chủ yếu là hệ thống thoát nước chung. Nước thải của thành phố được thu gom bằng tuyến cống bao ven biển, ven sông, ven hồ, ven kênh qua các giếng chuyển dòng có cao trình đỉnh đập +0.6 (CSO) tại các cửa xả, chỉ có một phần rất ít các khu quy hoạch mới là hệ thống thu gom riêng, thu gom chuyển về trạm xử lý nước thải tập trung. Riêng các khu công nghiệp đều thoát nước riêng hoàn toàn và có trạm xử lý nước thải tập trung riêng. Hầu hết các hộ gia đình đều có bể phốt và chỉ có một tỉ lệ nhỏ nước thải đầu ra được đấu nối trực tiếp vào hệ thống thoát nước của thành phố, số còn lại ngấm trực tiếp xuống nền đất.

Thành phố Đà Nẵng có 07 trạm xử lý nước thải (TXLNT) với tổng quy mô công suất là 145.000 m3/ngđ, trong đó: TXLNT Hoà Cường 40.000 m3/ngđ với công nghệ kỵ khí (chuẩn bị chuyển thành trạm bơm), TXLNT Phú Lộc 40.000 m3/ngđ công nghệ SBR, TXLNT Sơn Trà 25.000 m3/ngđ công nghệ Aetotank, TXLNT Ngũ Hành Sơn 10.000m3/ngđ công nghệ kỵ khí (chuẩn bị chuyển thành trạm bơm và trạm xử lý nước mưa đợt đầu), TXLNT Hoà Xuân 60.000m3/ngđ) công nghệ SBR, TXLNT Liên Chiểu 20.000 m3/ngđ công nghệ SBR.

  1. Đối với hệ thống thoát nước mặt (thoát nước chung)

Đà Nẵng có 05 lưu vực thoát nước chính: Khu vực trung tâm, khu vực khu vực Tây Bắc, khu vực phía Nam thành phố, khu vực phía Đông, khu vực Hòa Vang. Nhìn chung tất cả các khu vực đều phủ đầy hệ thống thoát nước, riêng khu vực phía Nam thành phố do chưa phát triển đô thị nên khu vực này chủ yếu thoát nước theo địa hình tự nhiên và các vị trí trũng thấp, sau đó chảy ra sông, hồ, ao. Khu vực trung tâm, hiện tại có 02 trạm bơm chống ngập (trạm bơm Thuận Phước, trạm bơm Trương Chí Cương) do cao độ thấp, tuyến thoát nước chính bị ảnh hưởng lớn của thủy triều nên khả năng thoát nước bị giảm sút và đang tiếp tục chuẩn bị đầu tư xây dựng thêm 02 trạm bơm chống ngập tại cuối đường Ông Ích Khiêm (cửa xả Ông Ích Khiêm) và bên cạnh phía Nam cầu Trần Thị Lý (cửa xả cống Mê Linh).

  1. Các tồn tại của hệ thống thoát nước; tình hình và nguyên nhân ngập úng thành phố Đà Nẵng *a) Các tồn tại hệ thống thoát nước: Các cửa xả ven sông, biển thường xuyên bị ảnh hưởng của thuỷ triều, cát lấp CSO, nước thải thường xuyên đổ ra biển, sông, ao hồ đô thị gây ô nhiễm; Công nghệ các trạm xử lý nước thải bằng công nghệ kỵ khí (thuộc dự án thoát nước vệ sinh môi trường), xử lý không đảm bảo yêu cầu theo quy định trước khi xả ra môi trường, thường xuyên phát sinh mùi tại các trạm xử lý; Hệ thống thoát nước chung tại các khu vực đô thị cũ xuống cấp nên nước ngầm chảy vào hệ thống thoát nước, chuyển đến trạm xử lý gây tốn kém cho công tác vận hành; Hệ thống thoát nước chung chưa tính toán đến các yếu tố kỹ thuật về chuyển tải nước thải (vận tốc lắng cặn chưa đảm bảo) nên chất hữu cơ lắng đọng nhiều trong cống, gây mùi hôi tại các cửa thu nước ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân; Chưa quản lý được tình trạng đấu nối các hộ gia đình (đặc biệt là các khu đô thị cũ) nên việc triển khai thoát nước riêng hoàn toàn cho khu vực đô thị cũ trong tương lai rất khó khả thi và tốn kém; Hệ thống thoát nước mặt khu vực trung tâm thường xuyên ảnh hưởng của thủy triều (do địa hình bằng phẳng), hệ số mặt phủ tăng so với thiết kế ban đầu (do bề mặt không thấm nước tăng do tốc độ phát triển đô thị) nên khả năng thoát nước bị ảnh hưởng rất lớn.

bao-so-4-co-the-do-bo-da-nang-4_1473665872P_chinhb.Tình hình ngập úng và các nguyên nhân chính

Hiện nay, thành phố có khoảng 50 điểm ngập úng với các nguyên chính như sau: Do tác động của Biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng nên cường độ, tần suất mưa ngày càng lớn dẫn đến hệ thống thoát nước không đảm bảo (vượt tần suất tính toán); Một số khu khu vực có cao độ nền quá thấp không đúng theo quy định; Khả năng thoát nước của hệ thống thoát nước bị giảm rất nhiều so với tính toán ban đầu do ảnh hưởng thường xuyên của triều cường, quá trình đô thị hóa; Một số cống lâu ngày xuống cấp, hư hỏng mất khả năng thoát nước chưa có điều kiện thay thế; Đô thị còn thiếu hồ điều tiết để tăng khả năng trữ nước; Kinh phí cho công tác nạo vét, khơi thông kênh, cống còn hạn chế; Công tác vận hành các hồ điều tiết còn bất cập do yếu tố cảnh quan, không xả sớm kịp thời trước khi mưa, không tận dụng tối đa khả năng điều tiết của hồ nên có tình trạng gần hồ điều tiết mà vẫn bị ngập; Một số hộ dân xây dựng trái phép thu hẹp dòng chảy, làm ảnh hưởng đến khả năng thoát nước; Một số dự án chưa triển khai đồng bộ do điều kiện kinh phí; Năng lực, phương tiện quản lý vận hành hệ thống thoát nước đô thị còn nhiều bất cập, hạn chế.

II. CÁC PHƯƠNG THỨC TIẾP CẬN VÀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC THOÁT NƯỚC CHO CÁC ĐÔ THỊ VIỆT NAM.

1.Thoát nước thải và xử lý nước thải bền vững ở các đô thị Việt Nam

Nước thải được thu gom và xử lý bằng giải pháp thoát nước chung, riêng, nửa riêng hay hỗn hợp, theo các mô hình tổ chức thoát nước tập trung hay phân tán. Hệ thống thoát nước tập trung thường được xây dựng cho các khu trung tâm đô thị, có mật độ dân số cao, có điều kiện xây dựng đồng bộ, các công trình xây dựng gần như hoàn chỉnh. Tuy nhiên, phương thức thoát nước truyền thống này có nhiều hạn chế, vì thế, ngày nay trên thế giới khuyến khích áp dụng mô hình phân tán, đặc biệt là cho các khu đô thị mới, các vùng ven đô, nông thôn với các công trình thu gom, xử lý, xả hay tái sử dụng nước thải cho các hộ riêng lẻ (giải pháp tại chỗ) hoặc khu dân cư (giải pháp phân tán theo cụm). Mô hình này có những ưu điểm: (1) Giảm chi phí đầu tư xây dựng, vận hành và bảo dưỡng do chiều dài tuyến cống thoát nước ngắn, đường kính nhỏ, độ sâu chôn cống không lớn, ít  trạm bơm nước thải; (2) Sử dụng các giải pháp công nghệ đơn giản, chi phí thấp, tận dụng triệt để các điều kiện tự nhiên để xử lý nước thải; (3) Dễ quy hoạch và thực hiện quy hoạch. Cho phép phân đợt xây dựng, đầu tư các hợp phần kỹ thuật từng bước theo khả năng tài chính. Quy mô đầu tư cũng sát với yêu cầu thực tế, tránh lãng phí; (4) Cho phép tái sử dụng tại chỗ nước thải sau xử lý (rửa, tưới, bổ cập nước ngầm) và chất dinh dưỡng tách được (bón cây trồng)… Trong một số trường hợp, có thể xử lý nước thải phân tán đạt mức độ xả ra môi trường, mạng lưới thoát nước mưa, nhờ vậy tiết kiệm đáng kể chi phí xây dựng và quản lý đường cống thoát nước.

1_1251231_chinh2. Thoát nước bề mặt bền vững cho các đô thị Việt Nam (SUDS)

a) Cách tiếp cận hiện nay:

Chỉ tập trung vào việc thu và chuyển nước mưa thông qua các hệ thống thoát nước để nước mưa thoát khỏi đô thị càng nhanh càng tốt. Chi phí cho xây dựng và vận hành, bảo dưỡng các đường cống thoát nước thường rất lớn, trong khi công suất của chúng lại chỉ có giới hạn và không dễ nâng cấp. Cách làm này dẫn đến nguy cơ ngập lụt, xói mòn đất và ô nhiễm ở vùng hạ lưu tăng.

b) Cách tiếp cận đảm bảo thoát nước bền vững (SUDS) : Mục tiêu ngăn ngừa, giảm thiểu, trì hoãn, xử lý và loại bỏ nước mưa đã bị ô nhiễm trước khi đổ ra nguồn tiếp nhận. Phương pháp tối ưu là các kỹ thuật thu gom, thấm, chuyển tải, trữ và xử lý, phương án này có tính bền vững, linh hoạt, triển khai với kinh phí thấp.

Quá trình đô thị hóa đã gây những tác động xấu đến quá trình thoát nước tự nhiên: dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, quá trình lưu giữ tự nhiên dòng chảy bằng các thảm thực vật và đất bị mất đi, thay vào đó là những bề mặt phủ không thấm nước như mái nhà, bê tông, đường nhựa, làm tăng lưu lượng dòng chảy bề mặt. Những dòng chảy này thường bị ô nhiễm do rác, bùn đất và các chất bẩn khác rửa trôi từ mặt đường. Lượng nước và cường độ dòng chảy tăng tạo nên sự xói mòn và lắng bùn cặn. Tất cả những yếu tố này gây những tác động xấu đến môi trường, úng ngập, ảnh hưởng đến hệ sinh thái dưới nước.

Phát hiện và khắc phục những tồn tại trên, gần đây, người ta đã nghiên cứu và áp dụng các giải pháp kỹ thuật thay thế, theo phương thức tiếp cận mới: hướng tới việc duy trì những đặc thù tự nhiên của dòng chảy về dung lượng, cường độ và chất lượng; kiểm soát tối đa dòng chảy từ nguồn, giảm thiểu tối đa những khu vực tiêu thoát nước trực tiếp, lưu giữ nước tại chỗ và cho thấm xuống đất, đồng thời kiểm soát ô nhiễm. Đó chính là những nguyên lý của SUDS.

Cách tiếp cận của thoát nước mưa bền vững (SUDS) là thoát chậm, không phải thoát nhanh, để tránh lượng mưa tập trung lớn trong thời gian ngắn. Tiết diện cống sẽ khó có thể đáp ứng nếu lượng mưa lớn, tốn kém mà nước vẫn tràn cống, gây ngập đường, lụt nhà. Vì vậy, phải tổ chức thoát nước mưa, kết hợp các biện pháp khác nhau một cách đồng bộ, sao cho dòng chảy được tập trung chậm. Sử dụng các hồ điều hòa trên diện tích thu gom và truyền dẫn nước mưa để lưu giữ nước là một cách làm phổ biến. Bên cạnh đó, sử dụng bản thân diện tích bề mặt của thành phố, tăng cường việc cho nước mưa thấm tự nhiên xuống đất qua các thảm cỏ xanh, đồng thời cải tạo cảnh quan và điều hòa tiểu khí hậu

Trong trường hợp khả năng kiểm soát dòng chảy tại chỗ bị hạn chế, thì có thể phân tán dòng chảy theo các lưu vực nhỏ, dẫn nước đi bằng những giải pháp như sử dụng kênh mương hở và nông, lưu giữ nước mưa trong những hồ chứa và cho thấm xuống đất ở những khu vực thích hợp. Để ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm, có thể áp dụng những giải pháp xử lý tại chỗ trong bãi đất thấm, hồ lắng, bãi lọc trồng cây…

III. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ GIẢI PHÁP THOÁT NƯỚC BỀN VỮNG

  1. Hệ thống nước mặt:

 Bao gồm hai giải pháp kỹ thuật: Kỹ thuật cứng và kỹ thuật mềm: (1) Giải pháp kỹ thuật cứng: Tạo ra bề mặt phủ có khả năng thấm, lưu giữ và chứa nước tốt như: Vỉa hè thấm nước, bể chứa nước mưa cho từng hộ gia đình, công trình để giảm tải lưu lượng mưa ra hệ thống thoát nước của thành phố…; (2) Giải pháp kỹ thuật mềm: là giải pháp kỹ thuật sinh thái tạo cảnh quan kiến trúc đô thị như mái nhà xanh, mương thấm (vật liệu xây có lỗ rỗng), hồ điều tiết… Hai giải pháp trên ngoài vấn đề giải quyết ngập úng đô thị còn có những ưu điểm sau: (1) Có khả năng bổ cập cho nguồn nước ngầm thông qua quá trình thấm; (2) Các chất gây ô nhiễm từ dòng chảy mặt được loại bỏ nhờ quá trình thấm, lọc; (3) Cải thiện cảnh quan đô thị; (4) Thích nghi với biến đổi khí hậu; (5) Dễ quản lý, bảo trì.

2) Hệ thống nước thải:

Sử dụng hệ thống thoát nước chung, thu gom nước thải bằng tuyến cống bao đối với khu đô thị cũ và thoát nước riêng hoàn toàn cho khu đô thị mới; Sử dụng mô hình thoát nước phân tán; Tái sử dụng nước phục vụ sau xử lý dùng tưới cây, rửa đường, bổ cập nước ngầm…

IV.GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THOÁT NƯỚC BỀN VỮNG CỦA TP. ĐÀ NẴNG

  1. Nguyên tắc tổ chức thoát nước cho các đô thị:

Tổ chức thoát nước phải dựa trên từng điều kiện cụ thể của địa phương:

– Đối với các khu vực trong đô thị hiện có: vẫn sử dụng hệ thống cống thoát nước chung, với các tuyến cống bao thu gom các loại nước thải và nước mưa đợt đầu, không cho chảy trực tiếp vào sông, hồ, kênh mương mà dẫn bằng các tuyến cống chính về các trạm xử lý nước thải. Trên các tuyến cống chính này, gần nguồn tiếp nhận, để giảm chi phí vận chuyển và xử lý nước thải, bố trí các giếng tràn tách hỗn hợp nước mưa đợt đầu và một phần nước thải đã được pha loãng, tràn qua đập tràn chảy ra nguồn tiếp nhận. Tuỳ theo điều kiện tự nhiên, mật độ dân cư, quỹ đất, nhu cầu tái sử dụng nước thải … mà có thể áp dụng mô hình thoát nước tập trung hay phân tán, với công nghệ hiện đại hay chi phí thấp.

– Đối với các khu đô thị xây dựng mới, xây dựng hệ thống thoát nước riêng, xử lý nước thải đạt yêu cầu trước khi xả ra nguồn tiếp nhận.

– Trong giai đoạn chưa có điều kiện xây dựng đầy đủ các tuyến cống thoát nước riêng và trạm xử lý nước thải, vẫn phải coi trọng và phát huy vai trò của bể tự hoại để xử lý nước đen, hay nước đen và nước xám từ các hộ gia đình, nhà chung cư, cơ quan, cơ sở dịch vụ… Bể tự hoại phải được thiết kế, xây dựng và quản lý đúng quy cách.

– Đối với các đô thị miền núi, có độ dốc dọc đường lớn, thuận lợi cho việc thoát nước, nên sử dụng hệ thống thoát nước riêng. Các khu vực ven đô, có thể áp dụng loại hệ thống thoát nước riêng giản lược, với đường kính nhỏ, chôn nông dọc vỉa hè, sơ đồ đấu nối xuyên tiểu khu, cùng với các kênh, mương, cống sẵn có để thoát nước bề mặt, sẽ giảm thiểu tối đa chi phí xây dựng và quản lý hệ thống thoát nước.

– Đối với các đô thị vùng đồng bằng, độ dốc cống nhỏ, cần triệt để tận dụng các mặt nước đô thị làm hồ điều hoà, kênh mương dẫn nước và giảm độ sâu chôn cống.

– Đối với các đô thị ven biển, địa hình bằng phẳng, khó tạo được độ dốc cống thuận lợi, lại ít có các sông mương và hồ điều tiết, do điều kiện địa chất phần lớn là cát và cát pha. Ở các đô thị này, có thể lợi dụng nước triều lên xuống hàng ngày, xây dựng các cống tự động đóng/mở theo mực nước triều để thoát nước và thau rửa hàng ngày hệ thống cống.

– Cố gắng áp dụng các giải pháp thoát nước bền vững càng sớm càng có lợi. Lồng ghép phương thức này với quy hoạch phát triển không gian đô thị; quản lý chặt chẽ cao độ san nền, tiêu thoát nước của các khu vực đô thị mới phát triển; đảm bảo sự thống nhất, phối hợp nhịp nhàng giữa thoát nước với hệ thống thủy văn đô thị và toàn lưu vực, kể cả hệ thống thủy nông, tiêu thoát lũ, điều tiết hồ chứa thủy điện ở thượng lưu và hạ lưu…

  1. Đề xuất giải pháp thoát nước bền vững cho thành phố Đà Nẵng:

– Rà soát, đánh giá khả năng thoát nước của hệ thống hiện trạng và đề xuất các giải pháp chiến lược, lâu dài, phân kỳ đầu tư, huy động nguồn lực để từng bước triển khai thực hiện. Việc đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước phải theo quy hoạch, kế hoạch của lĩnh vực thoát nước.

– Nghiên cứu điều chỉnh Chiến lược quản lý nước thải đã được phê duyệt cho phù hợp điều kiện thực tế địa phương. Khu vực ven biển Đông và khu vực trung tâm thành phố, đề xuất sử dụng thoát nước kết hợp với tỷ lệ thu gom phù hợp đối với từng khu vực. Khu vực Hòa Vang nghiên cứu tổ chức thoát nước thải theo kiểu phân tán để tiết kiệm kinh phí

– Để giảm áp lực cho hệ thống thoát nước của thành phố, tại các khu vực có diện tích thoát nước lớn cần phải có giải pháp giảm lưu lượng, cụ thể: (1) Khu vực  Sân bay Đà Nẵng cần phải khẩn trương khơi thông kênh rạch hiện trạng, nạo vét, mở rộng và bổ sung các hồ điều tiết để trữ, giảm lưu lượng cho hệ thống thoát nước thành phố; (2) Khu vực núi Phước Tường cần phải xây dựng bổ sung các hồ điều tiết tại các vị trí tụ thủy…

– Hạn chế tối đa phát triển đô thị tại khu vực trũng thấp (khu vực tham gia thoát lũ) để hạn chế gia tăng mực nước sông ảnh hưởng đến khả năng thoát nước của hệ thống. Đây là nguy cơ gây ngập lụt, ngập úng đô thị trong tương lai.

– Công tác quy hoạch cần lưu ý mở rộng các hành lang thoát lũ, tăng cường hồ điều tiết để tăng khả năng chứa nước, tăng cường mảng xanh đô thị để tăng hệ số thấm, giảm lưu lượng và tạo cảnh quan đô thị. Các trục thoát chính nên ưu tiên sử dụng kênh thoát nước để tăng khả năng thoát nước, chứa, thuận lợi công tác nạo vét, hạn chế tối đa cống hộp.

– Tính toán hệ thống thoát nước, lựa chọn cao độ nền phải xét đến yếu tố BĐKH và mực nước biển dâng .

– Giải pháp xây dựng các trạm bơm chống ngập tại các vị trí tụ thủy tại khu vực trung tâm là giải pháp căn cơ, lâu dài và phù hợp điều kiện địa hình, diễn biến về BĐKH và mực nước biển dâng ngày càng phức tạp.

– Xây dựng quy trình vận hành các hồ điều tiết trên cơ sở mùa mưa xả sớm, tận dụng tối đa khả năng điều tiết, ưu tiên công tác chống ngập úng đô thị. Tăng cường công tác kiểm tra, có chế tài cụ thể và xử phạt các đơn vị không nghiêm túc thực hiện.

– Thay thế, sửa chữa các cống đã xuống cấp không đảm bảo khẩu độ thoát nước. Nghiên cứu giải pháp hố ga thu nước mặt đường kết hợp ngăn mùi phù hợp với điều kiện địa phương

– Xây dựng các mẫu bể tự hoại theo đúng quy định và giải pháp thu gom nước xám, nước đen trong nhà để đưa vào cấp phép xây dựng công trình. Thiết lập và ban hành Quy chế phối hợp trong công tác kiểm tra việc triển khai thi công bể tự hoại, hệ thống thoát nước theo đúng giấy phép xây dựng.

– Nghiên cứu điều chỉnh giải pháp công nghệ hoặc quy trình xử lý cho phù hợp với thực tế chất lượng nước thải đầu vào và giải pháp thu gom để tiết kiệm kinh phí, giảm chi phí giá dịch vụ thoát nước.

– Nghiên cứu tái sử dụng nước sau xử lý tại các trạm xử lý nước thải để tưới cây, rửa đường…

– Tuyên truyền vận động người dân bảo vệ hệ thống thoát nước và tăng cường đấu nối nước thải.

– Nâng cao năng lực đơn vị thoát nước để chủ động trong công tác xử lý ngập úng và môi trường.

– Đẩy mạnh công tác XHH đầu tư xây dựng, quản lý vận hành; phân cấp quản lý trong thời gian tới…  

Ths. Lê Tùng Lâm

Ths. Trần Viết Dũng

ĐT&PT Số 63/2016

           

Check Also

1_625345

ĐÔ THỊ BIỂN VIỆT NAM – TIẾP CẬN VẤN ĐỀ VÀ SUY NGẪM VỀ ĐƯỜNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN

Việt Nam minh châu trời Đông Việt Nam nước thiêng tiên rồng Non sông như …