Home / THÔNG TIN / TỪNG BƯỚC HOÀN THIỆN KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT GÓP PHẦN THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM

TỪNG BƯỚC HOÀN THIỆN KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT GÓP PHẦN THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM

                                                                                                              PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến

                                                                    Nguyên Cục trưởng Cục Hạ tầng kỹ thuật, Bộ Xây dựng

 

  1. Quảng Nam vị trí địa chính trị, kinh tế quan trọng của đất nước

Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm của miền Trung, phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía Đông giáp biển Đông với trên 125 km bờ biển, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi.

Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành ba vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và ven biển; bị chia cắt theo các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ có mối quan hệ bền chặt về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái đa dạng với các hệ sinh thái đồi núi, đồng bằng, ven biển. Dãy Trường Sơn,  chạy dài suốt từ Bắc vào Nam, đoạn thuộc tỉnh Quảng Nam, núi khá cao, sườn phía đông dựng đứng, vươn lên nhiều nhánh núi dọc, tạo thành nhiều thung lũng lớn nhỏ phì nhiêu và hiểm yếu . Nơi đây những phong trào Nhân dân nổi dậy đã chọn làm căn cứ chống Pháp.

Quảng Nam có lực lượng lao động dồi dào chiếm 62% dân số toàn tỉnh. Việc hình thành các khu, cụm công nghiệp như khu kinh tế mở Chu Lai, khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang; các khu đô thị mới cùng với quá trình phát triển kinh tế đã và đang thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa.

Là địa phương duy nhất ở Việt Nam có hai di sản văn hóa thế giới là khu đền tháp cổ Mỹ Sơn và đô thị cổ Hội An; có nhiều bãi biển đẹp, thuận lợi để phát triển du lịch, nghỉ dưỡng.

Quảng Nam ở vị trí thuận tiện giao thương với mọi miền của đất nước và quốc tế thông qua 4 phương thức giao thông vận tải phát triển (đường bộ, đường sắt, đường hành không và đường sông-biển).

Quảng Nam nằm ở khúc ruột miền Trung của tổ quốc, với địa thế “rừng núi, đồng bằng và biển đan cài vào nhau trong một không gian địa lý nhỏ hẹp” tạo nên cho người dân xứ Quảng dáng vóc và tư thế rắn rỏi, bền chắc.

tải xuống (2)

Con người Quảng Nam có ý chí, bản lãnh kiên cường, tính tình phóng khoáng, ham chuộng tự do, kiên nhẫn, chịu khó, ham học hỏi, cầu tiến, khả năng tiếp nhận và phát huy cái mới. Trong thời cận đại, lịch sử Việt Nam bước vào thời kỳ bi tráng nhất, đất Quảng Nam trở thành chiến trường chính trong hai cuộc chiến liên tiếp nhau kéo dài gần 30 năm. Người dân Quảng Nam phải chịu đựng bao nhiêu nghiệt ngã của hoàn cảnh. Nhưng cũng từ đó người dân Quảng Nam trưởng thành về chính trị và người ta thường nói Quảng Nam là đất Ðịa Linh Nhân Kiệt, là quê hương của Cách mạng.

  1. Thực trạng về kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn tỉnh:

Trong những năm bằng sự lao động sáng tạo, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, tập trung nguồn lực của địa phương và hổ trợ quan trọng của Trung ương, nhiều công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật đã, đang đầu tư xây dựng bước đầu đã có những hiệu quả rõ rệt:

1.Giao thông vận tải: Tỉnh Quảng Nam có một hệ thống giao thông vận tải khá phát triển với đủ các loại hình giao thông

Đường bộ: Theo hướng Bắc Nam: hiện có 2 trục quan trọng đó là QL1A dài 85km và 190km Đường Hồ Chí Minh. Ngoài ra có tuyến cao tốc Đà Nẵng- Quảng Ngãi (đoạn qua Quảng Nam dài 90km) đã hoàn thành và tuyến đường ven biển dài 48Km từ Cửa Đại đến Núi Thành. Theo hướng Đông Tây: có các QL 14B, 14D và 14E với tổng chiều dài gần 200km. Đường tỉnh có khoảng 20 tuyến với chiều dài khoảng 465km và đường giao thông nông thôn và đường đô thị khoảng 7905km. Mặc dù được đầu tư khá lớn song chất lượng đường còn nhiều hạn chế, chiều rộng mặt cắt đường nhỏ, thời gian lưu thông còn dài, tốc độ lưu thông thấp.

Đường sông: Quảng Nam có 941 km sông ngòi tự nhiên, đang quản lý và khai thác 307 km sông (chiếm 32,62%), gồm 11 sông chính. Hệ thống sông hoạt động chính gồm 2 hệ thống: sông Thu Bồn và sông Trường Giang, hai hệ thống sông này đều đổ ra biển Đông theo 3 cửa sông: sông Hàn, Cửa Đại và Kỳ Hà. Toàn bộ đường sông đang khai thác cho vận tải thuỷ của tỉnh Quảng Nam dài 207 km, gồm 11 tuyến: Sông Thu Bồn, sông Trường Giang, sông Vu Gia, sông Yên, sông Vĩnh Điện, sông Hội An,sông Cổ Cò, sông Duy Vinh, sông Bà Rén, sông Tam Kỳ và sông An Tân trong các tuyến sông đang khai thác thì tuyến Sông Vu Gia (dài 52 km) là tuyến sông có vai trò quan trọng trong vận tải hàng hoá và hành khách đường sông của tỉnh Quảng Nam.

Đường biển: Quảng Nam có một Cảng Kỳ Hà cách CHKQT Chu Lai 5km, cách Khu lọc hóa dầu Dung Quất 15km. Đây là cảng tổng hợp có thể tiếp nhận tàu có trọng tải từ 10.000 đến 20.000T

Đường sắt: Trục đường sắt Bắc Nam đi qua tỉnh Quảng Nam dài 85km. Ngoài nhà ga chính ở Tam Kỳ, còn có ga Nông Sơn, ga Phú Cang (Bình Quý, Thăng Bình), ga Núi Thành (Núi Thành), ga Trà Kiệu (Duy Xuyên). Đây là trục quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

Đường hàng không: Cảng Hàng không (CHK) Chu Lai cách TP. Tam Kỳ 20km và cách TP.Đà Nẵng khoảng 87km. Việc CHK Chu Lai đi vào hoạt động thương mại góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, xã hội, du lịch, nghỉ dưỡng không chỉ của Quảng Nam (với khu công nghiệp Chu Lai, du khách đến với hai di sản văn hóa thế giới Hội An, Mỹ Sơn) mà còn của tỉnh Quảng Ngãi (với khu công nghiệp Dung Quất và các địa danh lịch sử Lý Sơn, Sơn Mỹ..).

  1. Hệ thống cấp điện và các nhà máy thủy điện:

Trên địa bàn có hệ thống truyền tải 500KV, 220KV, 110kvđang vận hành khá tốt, nguồn cung cấp điện năng từ các tram 110KV bảo đảm an toàn cấp điện. Mạng lưới điện phủ khắp trên địa bàn. Tuy nhiên mạng điện nông thôn đã xuống cấp chủ yếu vận hành ở cấp 15KV nên tổn thất lớn chưa đảm bảo an toàn trong cung cấp điện.

Cũng trên địa bàn có 8 dự án thủy điện có công suất lớn (trên 100MW) và 35 sự án thủy điện có công suất nhỏ.. Nhiều nhà máy thủy điện có công suất lớn như A Vương, Sông Bung 2, 4, Sông Giằng, Dak Mi, Sông Kôn2, Sông Tranh2..đã, đang góp phần cung cấp điện cho nhu cầu ngày càng tăng của Quảng Nam và của Khu vực.

  1. Hệ thống cung cấp nước sạch:

– Nguồn nước:

+ Nước sông: Hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn là 2 nguồn cung cấp nước cho các nhà máy nước. Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm. Lưu lượng dòng chảy trung bình năm của sông Vu Gia. Tuy nhiên do tác động bởi thủy triều, hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn đang bị nhiễm mặn ở khu vực hạ lưu.

+ Hồ nước: Hồ chứa nước có vai trò rất quan trọng trong việ cấp nước cho tỉnh Quảng Nam. Số lượng hồ chứa có dung tích lớn hơn 1 triệu m3 là 29 hồ. Hồ chứa nước Phú Ninh có vai trò đặc biệt quan trọng cung cấp nước cho các nhu cầu sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp cho khu vực phía Nam của Tỉnh

+ Nước ngầm: Nhìn chung trữ lượng nước ngầm vào loại nghèo nên chỉ khai thác để phục sinh hoạt cho các hộ dân cư có quy mô nhỏ.

-Hệ thống cấp nước: Có 3 hệ thống cấp nước chính đó là: Cấp nước đô thị; cấp nước nông thôn và cấp nước cho các khu công nghiệp, khu kinh tế. Hệ thống cấp nước đô thị cung cấp nước sạch cho dân cư đô thị, công nghiệp tại các thành phố, thị xã, thị trấn và một số khu dân cư liền kề đô thị. Hệ thống cấp nước nông thôn chủ yếu cung cấp nước cho dân cư nông thôn và các khu vực vùng sâu, xa. Cấp nước khu công nghiệp/khu kinh tế từ một số hệ thống cấp nước do Ban quản lý các khu công nghiệp hoặc nhà đầu tư tự đầu tư và quản lý. Tổng công suất thiết kế cấp nước đô thị đạt khoảng 86.350m3/ngđ. Cấp nước nông thôn có 451 hệ thống với công suất thiết kế từ 20m3 đến 800m3 trong đó chỉ có khoảng 17% hoạt động bền vững, 42% hoạt động kém hiệu quả. Cấp nước công nghiệp có công suất khoảng 7800m3/ngđ.

  1. Thoát nước và xử lý nước thải

– Thoát nước mưa:  Do biến đổi thời tiết bất thường, các trận mưa lớn diễn ra thường xuyên hơn, cường độ lớn hơn, thời gian mưa dài hơn trong thời gian qua hiện tượng lũ ống, lũ quét trên các sông suối nhỏ; ngập úng tại vùng thấp trũng thấp, ngập úng cục bộ tại TP Tam Kỳ, TP Hội An và thị xã Điện Bàn, thị trấn Nam Phước, thị trấn Hà Lam, thị trấn Núi Thành. Nhiều hệ thống thoát nước của các đô thị còn bất cập, chưa được đầu tư đồng bộ, trận mưa lớn kỷ lục bất thường vào tháng 12/2018 kết hợp với thủy triều dâng cao đạt đỉnh đã khiến TP.Tam Kỳ bị ngập lụt dài ngày.

– Nước thải sinh hoạt: Hệ thống thoát nước của các đô thị trong tỉnh là hệ thống thoát nước chung (nước mưa và nước bẩn). Hiện nay TP. Tam Kỳ đã đầu tư hệ thống thoát nước bẩn với trạm xử lý CS 8000m3/ngđ vốn WB; Hội An có trạm xử lý CS 6750m3/ngđ vốn Pháp và trạm xử lý nước thải công suất 2.000 m3/ngày/đêm vốn Nhật Bản. Khu vực ngoại thị và nông thôn chưa có hệ thống thoát nước, nước thải được xả thẳng ra môi trường tự nhiên, thoát ra sông hồ theo các kênh mương hở và vết tụ thủy.

– Nước thải công nghiệp: 2/6 khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung hoạt động. Hệ thống thoát nước thải của hầu hết các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa được đầu tư đồng bộ, một số cụm công nghiệp chưa có hệ thống thoát nước riêng. Các cụm công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Một số xí nghiệp công nghiệp đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ nhưng do không được quản lý và vận hành tốt nên hiệu quả sau khi xử lý không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường.

  1. Quản lý chất thải rắn thông thường

Những năm qua, nền kinh tế của tỉnh Quảng Nam có sự tăng trưởng rất nhanh và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, mặt trái của việc phát triển kinh tế với tốc độ nhanh cũng đã làm phát sinh ngày càng lớn lượng chất thải, sự nguy hại về tính chất của các loại chất thải, trong đó có cả các chất thải rắn.

Theo các số liệu thống kê của tỉnh Quảng Nam, hiện mỗi ngày địa phương này có lượng chất thải rắn phát sinh (CTRSH) là hơn 1.120 tấn nhưng năng lực thu gom, xử lý chỉ khoảng hơn 600 tấn/ngày (chiếm hơn 50%). Trong đó, khu vực nông thôn và miền núi tỷ lệ thu gom, vận chuyển chỉ đạt 35 – 42%. Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt của tỉnh Quảng Nam hàng năm không ngừng tăng lên. Việc xử lý rác thải sinh hoạt hiện nay của tỉnh Quảng Nam hiện nay vẫn chủ yếu bằng hình thức chôn lấp. Trong số 20 bãi rác đang hoạt động chỉ có 6 bãi rác chôn lấp hợp vệ sinh, gồm: bãi rác Tam Xuân 2, Tam Nghĩa (Núi Thành), Đại Hiệp (Đại Lộc) và 3 bãi chôn lấp ở xã Ba (Đông Giang), Đông Phú (Quế Sơn) và Trà Sơn (Bắc Trà My); 14 bãi rác thủ công còn lại với quy mô diện tích dưới 0,5ha.

Hiện cả tỉnh Quảng Nam chỉ có một nhà máy sản xuất phân compost xử lý rác sinh hoạt tại phường Cẩm Hà (TP. Hội An) với công suất thiết kế 55 tấn/ngày. Một vấn đề bất cập lớn trong xử lý CTRSH tại các vùng nông thôn của Quảng Nam hiện nay là chưa phân loại rác thải tại nguồn một cách triệt để, gây khó khăn lớn trong công tác xử lý CTRSH.

  1. Quản lý nghĩa trang:

Trên toàn tỉnh hiện có gần 340 nghĩa trang tập trung được xác định cụ thể và hàng ngàn nghĩa trang nằm rải rác với diện tích khoảng trên 5200ha. Ngoài số lượng nghĩa trang lớn thì tại đại đa số các xã rất nhiều ngôi mộ xây dựng rải rác đơn lẻ giữa cánh đồng gây trở ngại lớn cho việc cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp. Đối với các huyện miền núi rất nhiều ngôi mộ xây dựng rải rác đơn lẻ và tự phát giữa các khu rừng gây lãng phí đất và mất mỹ quan. Nhiều nghĩa trang nằm sát khu dân cư, gần nguồn nước sinh hoạt đã và đang gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của nhân dân. Do chưa có quy hoạch nên việc xây cất các phần mộ tùy tiện và việc chọn hướng mộ của mỗi gia đình, dòng họ khác nhau nên các ngôi mộ xây dựng không theo hàng lối, ngôi cao ngôi thấp, nhô ra thụt vào rất lộn xộn.  Nhiều gia đình dòng họ xây cất phần mộ quy mô quá lớn với nhiều kiểu dáng khác nhau gây tốn kém tiền của, lãng phí đất đai, tạo ra sự đua tranh không lành mạnh trong nhân dân.

III. Những thách thức đến xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật tỉnh Quảng Nam.

  1. Tốc độ đô thị hóa và phát triển đô thị còn chậm so với cả nước

Tính đến ngày 1/4/2019, dân số Quảng Nam là 1 495 812 người, với mật độ dân số trung bình là 149 người/km², đây cũng là tỉnh đông dân thứ 3 vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Dân cư phân bố trù mật ở dải đồng bằng ven biển, dọc quốc lộ 1, đồng bằng Vu Gia Thu Bồn và Tam Kỳ. Mật độ dân số của Tam Kỳ, Hội An và Điện Bàn vượt quá 1,000 người/km² trong khi rất thưa thớt ở các huyện miền núi phía Tây. Mật độ dân số trung bình của 6 huyện miền núi gồm Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Bắc Trà My và Nam Trà My là dưới 30 người/km². Với 69% dân số sinh sống ở nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệ dân số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của cả nước. Tuy nhiên quá trình đô thị hóa của tỉnh đang diễn ra mạnh mẽ sẽ tác động lớn đến sự phân bố dân cư nông thôn-thành thị trong thời gian tới.

  1. Tác động khó lường của biến đổi khí hậu :

Tác động của biến đổi khí hậu ngày càng tăng, thời tiết cực đoan và dự báo khó lường. Biến đổi khí hậu đã, đang và tiếp tục xóa đi những thành quả của nhiều năm phát triển. Sự mở rộng các đô thị, nạn phá rừng đầu nguồn, xây dựng các cơ sở hạ tầng dầy đặc và bê tông hóa bề mặt đã góp phần không nhỏ làm tăng ngập úng tại các đô thị và Quảng Nam không phải là ngoại lệ. Tại Quảng Nam trong những năm qua đặc biệt trận Đại hồng thủy năm 2013 (đây là trận lũ lớn nhất trong 10 năm qua) đã làm ngập hầu hết các huyện đồng bằng và trung du, các huyện miền núi bị sạt lở nghiêm trọng. Hàng ngàn hộ dân phải sơ tán, lũ lụt, bão lũ đã tàn phá nhiều cơ sở hạ tầng kỹ thuật, uy hiếp các hồ chứa nước trong đó hầu hết các tuyến giao thông huyết mạch như tuyến đường Hồ Chí Minh bị sạt lở, quốc lộ 1A bị ngập lũ, gây ách tắc giao thông làm nhiều địa phương trong tỉnh bị cô lập. Năm 2016 có hai đợt mưa lũ kéo dài từ ngày 28-11 đến 17-12 đã gây thiệt hại lớn về người và ngành nông nghiệp nhiều tuyến quốc lộ bị sạt lở với tổng khối lượng sạt lở, bồi lấp . Năm 2018, ngày 9/12 đến 13h ngày 12/12, Quảng Nam xuất hiện mưa lớn kỷ lục. Tại Câu Lâu là 1.014 mm; Tam Kỳ 944 mm; Hội An 770 mm; Giao Thúy 603 mm; Ái Nghĩa 534 mm; Tiên Phước 259 mm…Đợt mưa lũ lớn này gây tổn thất lớn cho các huyện Phú Ninh, Thăng Bình và TP Tam Kỳ.

  1. Kết nối giao thông và tổ chức vận tải còn nhiều hạn chế

– Kết nối giao thông:

+ Kết nối nội vùng được bảo đảm thông qua hệ thống giao thông đường bộ từ quốc lộ đến đường tỉnh, đường giao thông nông thôn và giao thông đô thị. Tuy nhiên chất lượng kết nối còn hạn chế do chất lượng quốc lộ, đường tỉnh còn thấp, nhiều cầu yếu.

+ Kết nối liên tỉnh cũng đã đảm bảo cả 2 hướng Bắc Nam và Đông Tây thông qua hệ thống đường bộ (trục dọc, trục ngang), đường hàng không, đường sắt và đường biển. Tuy nhiên năng lực vận tải đường sắt còn thấp, đường bộ qua QL1A hẹp, năng lực thông qua hạn chế, đường Hồ chí Minh hay bị sạt lở về mùa mưa.

+ Kết nối với các đầu mối vận tải: Kết nối giữa đường sắt với cảng biển, sân bay, các khu kinh tế, khu công nghiệp còn nhiều hạn chế làm giảm khả năng khai thác tối đa của các cảng, nhà ga và khu kinh tế.

Tổ chức vận tải: Do kết nối giao thông còn hạn chế nên tổ chức vận tải chủ yếu dạng đơn phương thức, chưa hình thành được chuỗi dịch vụ logictics.

  1. An toàn nguồn nước và ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng:

Hệ thống sông của Quảng Nam có mật độ khá cao tuy nhiên có đặc điểm là lưu vực và lòng sông có độ dốc lớn, thời gian mưa ngắn, mùa khô dài nguy cơ thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất, hạn hán và lũ lụt vào mùa mưa. Do tác động của BĐKH vùng hạ lưu dễ bị nhiễm mặn. Việc xây dựng nhiều nhà máy, xí nghiệp với các quy mô khác nhau dẫn đến nhu cầu về nước tăng cao; việc xả nước thải sản xuất từ các nhà máy, khu chế xuất khu công nghiệp chưa được xử lý vào sông rạch, ao hồ gây ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất, chất thải rắn chưa được quản lý tốt đặc biệt chất thải ở khu vực nông thôn là những nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.

  1. Một số đề xuất về xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
  2. Tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình phát triển đô thị tỉnh Quảng Nam giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Quyết định số 1367/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của UBND tỉnh Quảng Nam)

Về phát triển mạng đô thị : Phát triển các cụm đô thị trong vùng Đông tỉnh Quảng Nam trên cơ sở phát triển chuỗi các đô thị dọc tuyến Quốc lộ 1A gắn với các đô thị vùng ven biển và Khu kinh tế mở Chu Lai; phát triển 03 đô thị trung tâm vùng phía Tây của tỉnh, với các định hướng được xác định: Thạnh Mỹ là trung tâm cụm Tây Bắc, Khâm Đức là trung tâm cụm Trung Tây, Trà My là trung tâm cụm Tây Nam. Theo dự báo đến năm 2020 Quảng Nam có 20 đô thị gồm 2 đô thị loại II, 1 đô thị loại 3, 6 đô thị loại IV và 11 đô thị loại V. Đến năm 2030 dự kiến có 28 đô thị.

Về phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: Hình thành Khu công nghiệp Đại Tân; hoàn chỉnh phát triển chuỗi các cụm công nghiệp dọc theo Quốc lộ 14B; mở rộng Khu công nghiệp Đông Quế Sơn; hình thành mới một khu công nghiệp trên tuyến Quốc lộ 14E thuộc địa bàn huyện Thăng Bình, Hiệp Đức; phát triển các Khu công nghiệp trong Khu kinh tế mở Chu Lai như: Khu Công nghiệp Tam Thăng, Khu Công nghiệp cơ khí đa dụng và ô tô tập trung Chu Lai. Tập trung phát triển một số cụm công nghiệp dọc các Quốc lộ, Tỉnh lộ kết nối giữa các vùng, các đô thị với khu vực nông thôn. Đồng thời xây dựng và phát triển các làng nghề.

Về phát triển du lịch: Tiếp tục phát triển khu vực du lịch ven biển Điện Bàn – Hội An; từng bước hình thành vùng du lịch ven biển thuộc các huyện Duy Xuyên – Thăng Bình; gắn kết với khu vực di tích Mỹ Sơn, vùng ven sông Thu Bồn; phát triển du lịch khu vực phía Đông Tam Kỳ, Núi Thành gắn kết với khu vực hồ Phú Ninh, các khu du lịch, khu di tích lịch sử phía Tây Nam của tỉnh.

Về phát triển thương mại – dịch vụ tại các khu vực: Khu Kinh tế cửa khẩu; Hội An, Điện Bàn, Ái Nghĩa; Nam Phước, Hà Lam; Tam Kỳ, Núi Thành.

  1. Các giải pháp về xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật

Kết cấu hạ tầng kỹ thuật có vai trò rất to lớn đến phát triển kinh tế, xã hội nói chung mà còn thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển hệ thống đô thị nói riêng. Phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ sẽ góp phần phát triển kinh tế bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh, năng suất lao động, thu hút các nguồn vốn đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền đặc biệt góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Trên cơ sở phân tích thực trạng (thuận lợi và thách thức) các chiến lược, định hướng, quy hoạch và chương trình phát triển đô thị…. Đề xuất một số giải pháp như sau:

  1. Liên kết về giao thông:

Hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ trong tỉnh và khớp nối với hệ thống giao thông đường bộ quốc gia.

  • Liên kết ngoại vùng: Hoàn thiện tuyến đường ven biển Việt Nam, nâng cấp Quốc lộ 1A, cải tạo, nâng cao năng lực của đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi đoạn qua tỉnh, xây dựng tuyến đường Đông Trường Sơn. Phát triển CHK Chu Lai thành cảng hàng không quốc tế với vai trò là trung tâm trung chuyển hàng hóa hàng không; Xây dựng, nâng cấp Cảng Kỳ Hà ( bến cảng Kỳ Hà: tiếp nhận tàu tải trọng từ 7000T đến 20.000T, bến cảng Tân Hiệp tiếp nhận tàu từ 10.000T đến 20.000T); Cải tạo, nâng cấp tuyến đường sắt Bắc Nam, xây dựng tuyến nhánh nối đường sắt quốc gia với Khu kinh tế Chu Lai và cảng biển Kỳ Hà..
  • Liên kết nội vùng: Nâng cấp, mở rộng và hoàn chỉnh tuyến đối với các Quốc lộ, Tỉnh lộ có điểm đấu nối với đường cao tốc, bao gồm ĐT618, QL40B, QL14E, ĐT609. Nâng cấp QL14D; xây dựng cầu Giao Thủy; nâng cấp các tuyến ĐT: 603, 607, 608, 609, 611, 615, 616, 617; hình thành các tuyến liên kết các đô thị tại các cụm động lực số 1, số 3; nâng cấp, hoàn thiện hệ thống giao thông kết nối trong vùng Đông.
  • Quy hoạch phát triển giao thông tại các đô thị phù hợp với không gian kiến trúc đô thị, thống nhất, đồng bộ, liên hoàn liên kết với mạng lưới giao thông vùng, quốc gia..
  1. Bảo vệ nguồn nước, chủ động phòng ngừa tác động của biến đổi khí hậu và phòng chống rủi ro môi trường:

Bảo vệ nguồn nước là một yêu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Nâng cao hiệu quả hoạt động của ban quản lý tổng hợp lưu vực sông (Vu Gia – Thu Bồn); lập quy hoạch tài nguyên nước; lập danh mục hành lang bảo vệ nguồn nước trên địa bàn tỉnh; tiến hành cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước theo danh mục; xây dựng bản đồ ngập úng cho các đô thị; xác định các vùng thấp có khả năng ngập nước do nước biển dâng; không quy hoạch mới hay mở rộng đô thị vào các khu vực có nguy cơ ngập úng; xây dựng chương trình phòng chống rủi ro môi trường nhằm ngăn chặn việc xả nước thải, rác thải, xả chất độc vào nguồn nước. Xây dựng quy trình quản lý, xả nước hồ chứa thủy lợi, thủy điện hợp lý. Tăng cường việc trồng và bảo vệ rừng phòng hộ ở đầu nguồn và ven biển. Tăng cường các biện pháp dự báo và cảnh báo thiên tai để dự báo, cảnh báo được chính xác hơn, kịp thời hơn đến mọi vùng dân cư.

  1. Quy hoạch cấp nước:

Dự báo nhu cầu dùng nước trung bình cho các mục đích sử dụng đến năm 2030 khoảng 551.680m3/ngđ.

Lựa chọn nguồn nước: Ưu tiên sử dụng nguồn nước mặt đặc biệt nguồn nước mặt có trữ lượng và chất lượng ổn định như các hồ Phú Ninh, Thái Xuân….. các sông lớn như sông Vu Gia, Thu Bồn..và các sông, suối có trữ lượng, chất lượng tốt gần các đối tượng tiêu thụ nước tại các huyện thuộc vùng Tây của tỉnh. Chủ động bảo vệ nguồn nước – Lắp đặt hệ thống quan trắc tự động nguồn nước mặt tại các nhà máy nước; Cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước được giao…

Trên cơ sở nhu cầu, nguồn nước và phân bố hệ thống đô thị, khu dân cư trên địa bàn dự kiến xây dựng, cải tạo, nâng cấp một số nhà máy nước: Hội an, Vĩnh Điện, Ái Nghĩa, Trảng Nhật.. (vùng I: Hội An – Điện Bàn); Cù Bàn, Đông Phú, Thăng Bình (vùng II: Duy Xuyên – Quế sơn-Thăng Bình); Tam kỳ, Phú Ninh, Tâm Hiệp..(vùng III: Tam kỳ-Núi Thành)…

  1. Quy hoạch thoát nước và xử lý nước thải:

Quy hoạch thoát nước dựa trên cơ sở quản lý toàn diện lưu vực sông, suối, kênh và hồ nhằm đảm bảo tính bền vững và ổn định lâu dài về môi trường nước. Các sông, kênh đi qua các khu vực đô thị cần được kè hai bên bờ để hạn chế xói lở vào mùa mưa lũ, tạo cảnh quan cho đô thị và dễ dàng cho việc quản lý.

Mô hình xây dựng hệ thống thu gom nước thải:

  • Đối với các khu đô thị cũ: Do cơ sở hạ tầng đã ổn định sẽ sử dụng cống chung. Các công trình công cộng xử lý sơ bộ bằng bể tự hoại hợp quy chuẩn sau đó xả r đường cống chung. Nước thải sẽ được thu gom qua các giếng tách và dẫn về trạm xử lý nước thải qua cống bao.
  • Đối với đô thị mới sẽ áp dụng hệ thống cống riêng

Phân vùng thoát nước và xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các nhà máy xử lý nước thải bao gồm: Phân vùng như vùng cấp nước: Vùng I: Nhà máy XLNT Hội an; Đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc, Đô thị Vĩnh Điện, Ái Nghĩa, ..; Vùng II: Nhà máy Nam Phước, Duy Nghĩa, Đông Phú, Hà Lam…; Vùng III: Nhà máy xử lý nước thải Tam Kỳ, Núi Thành…

Đề xuất áp dụng giải pháp thoát nước bền vững (SUDS) để quy hoạch về tiêu thoát lũ vùng lưu vực sông.

  1. Quy hoạch quản lý CTR trên địa bàn tỉnh:

Quy hoạch quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Quảng nam phải phù hợp với “Điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR “thực hiện liên ngành, địa phương; đảm bảo tối ưu về kinh tế, kỹ thuật, an toàn về môi trường, xã hội; gắn với quy hoạch phát triển KT-XH và quy hoạch ngành của tỉnh.

Quy hoạch phải đồng bộ hệ thống quản lý tổng hợp đối với CTR trên toàn tỉnh, theo đó CTR được phân loại tại nguồn, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý triệt để bằng công nghệ tiên tiến và phù hợp, hạn chế tối đa lượng chất thải chôn lấp nhằm tiết kiệm tài nguyên đất đai và hạn chế gây ô nhiễm môi trường, quản lý và xử lý chất thải nguy hại theo các phương thức phù hợp.

  1. Quảng Nam vị trí địa chính trị, kinh tế quan trọng của đất nước

Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm của miền Trung, phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía Đông giáp biển Đông với trên 125 km bờ biển, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi.

Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành ba vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và ven biển; bị chia cắt theo các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ có mối quan hệ bền chặt về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái đa dạng với các hệ sinh thái đồi núi, đồng bằng, ven biển. Dãy Trường Sơn,  chạy dài suốt từ Bắc vào Nam, đoạn thuộc tỉnh Quảng Nam, núi khá cao, sườn phía đông dựng đứng, vươn lên nhiều nhánh núi dọc, tạo thành nhiều thung lũng lớn nhỏ phì nhiêu và hiểm yếu . Nơi đây những phong trào Nhân dân nổi dậy đã chọn làm căn cứ chống Pháp.

Quảng Nam có lực lượng lao động dồi dào chiếm 62% dân số toàn tỉnh. Việc hình thành các khu, cụm công nghiệp như khu kinh tế mở Chu Lai, khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang; các khu đô thị mới cùng với quá trình phát triển kinh tế đã và đang thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa.

Là địa phương duy nhất ở Việt Nam có hai di sản văn hóa thế giới là khu đền tháp cổ Mỹ Sơn và đô thị cổ Hội An; có nhiều bãi biển đẹp, thuận lợi để phát triển du lịch, nghỉ dưỡng.

Quảng Nam ở vị trí thuận tiện giao thương với mọi miền của đất nước và quốc tế thông qua 4 phương thức giao thông vận tải phát triển (đường bộ, đường sắt, đường hành không và đường sông-biển).

Quảng Nam nằm ở khúc ruột miền Trung của tổ quốc, với địa thế “rừng núi, đồng bằng và biển đan cài vào nhau trong một không gian địa lý nhỏ hẹp” tạo nên cho người dân xứ Quảng dáng vóc và tư thế rắn rỏi, bền chắc.

Con người Quảng Nam có ý chí, bản lãnh kiên cường, tính tình phóng khoáng, ham chuộng tự do, kiên nhẫn, chịu khó, ham học hỏi, cầu tiến, khả năng tiếp nhận và phát huy cái mới. Trong thời cận đại, lịch sử Việt Nam bước vào thời kỳ bi tráng nhất, đất Quảng Nam trở thành chiến trường chính trong hai cuộc chiến liên tiếp nhau kéo dài gần 30 năm. Người dân Quảng Nam phải chịu đựng bao nhiêu nghiệt ngã của hoàn cảnh. Nhưng cũng từ đó người dân Quảng Nam trưởng thành về chính trị và người ta thường nói Quảng Nam là đất Ðịa Linh Nhân Kiệt, là quê hương của Cách mạng.

  1. Thực trạng về kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn tỉnh:

Trong những năm bằng sự lao động sáng tạo, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, tập trung nguồn lực của địa phương và hổ trợ quan trọng của Trung ương, nhiều công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật đã, đang đầu tư xây dựng bước đầu đã có những hiệu quả rõ rệt:

1.Giao thông vận tải: Tỉnh Quảng Nam có một hệ thống giao thông vận tải khá phát triển với đủ các loại hình giao thông

Đường bộ: Theo hướng Bắc Nam: hiện có 2 trục quan trọng đó là QL1A dài 85km và 190km Đường Hồ Chí Minh. Ngoài ra có tuyến cao tốc Đà Nẵng- Quảng Ngãi (đoạn qua Quảng Nam dài 90km) đã hoàn thành và tuyến đường ven biển dài 48Km từ Cửa Đại đến Núi Thành. Theo hướng Đông Tây: có các QL 14B, 14D và 14E với tổng chiều dài gần 200km. Đường tỉnh có khoảng 20 tuyến với chiều dài khoảng 465km và đường giao thông nông thôn và đường đô thị khoảng 7905km. Mặc dù được đầu tư khá lớn song chất lượng đường còn nhiều hạn chế, chiều rộng mặt cắt đường nhỏ, thời gian lưu thông còn dài, tốc độ lưu thông thấp.

Đường sông: Quảng Nam có 941 km sông ngòi tự nhiên, đang quản lý và khai thác 307 km sông (chiếm 32,62%), gồm 11 sông chính. Hệ thống sông hoạt động chính gồm 2 hệ thống: sông Thu Bồn và sông Trường Giang, hai hệ thống sông này đều đổ ra biển Đông theo 3 cửa sông: sông Hàn, Cửa Đại và Kỳ Hà. Toàn bộ đường sông đang khai thác cho vận tải thuỷ của tỉnh Quảng Nam dài 207 km, gồm 11 tuyến: Sông Thu Bồn, sông Trường Giang, sông Vu Gia, sông Yên, sông Vĩnh Điện, sông Hội An,sông Cổ Cò, sông Duy Vinh, sông Bà Rén, sông Tam Kỳ và sông An Tân trong các tuyến sông đang khai thác thì tuyến Sông Vu Gia (dài 52 km) là tuyến sông có vai trò quan trọng trong vận tải hàng hoá và hành khách đường sông của tỉnh Quảng Nam.

Đường biển: Quảng Nam có một Cảng Kỳ Hà cách CHKQT Chu Lai 5km, cách Khu lọc hóa dầu Dung Quất 15km. Đây là cảng tổng hợp có thể tiếp nhận tàu có trọng tải từ 10.000 đến 20.000T

Đường sắt: Trục đường sắt Bắc Nam đi qua tỉnh Quảng Nam dài 85km. Ngoài nhà ga chính ở Tam Kỳ, còn có ga Nông Sơn, ga Phú Cang (Bình Quý, Thăng Bình), ga Núi Thành (Núi Thành), ga Trà Kiệu (Duy Xuyên). Đây là trục quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

Đường hàng không: Cảng Hàng không (CHK) Chu Lai cách TP. Tam Kỳ 20km và cách TP.Đà Nẵng khoảng 87km. Việc CHK Chu Lai đi vào hoạt động thương mại góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, xã hội, du lịch, nghỉ dưỡng không chỉ của Quảng Nam (với khu công nghiệp Chu Lai, du khách đến với hai di sản văn hóa thế giới Hội An, Mỹ Sơn) mà còn của tỉnh Quảng Ngãi (với khu công nghiệp Dung Quất và các địa danh lịch sử Lý Sơn, Sơn Mỹ..).

  1. Hệ thống cấp điện và các nhà máy thủy điện:

Trên địa bàn có hệ thống truyền tải 500KV, 220KV, 110kvđang vận hành khá tốt, nguồn cung cấp điện năng từ các tram 110KV bảo đảm an toàn cấp điện. Mạng lưới điện phủ khắp trên địa bàn. Tuy nhiên mạng điện nông thôn đã xuống cấp chủ yếu vận hành ở cấp 15KV nên tổn thất lớn chưa đảm bảo an toàn trong cung cấp điện.

Cũng trên địa bàn có 8 dự án thủy điện có công suất lớn (trên 100MW) và 35 sự án thủy điện có công suất nhỏ.. Nhiều nhà máy thủy điện có công suất lớn như A Vương, Sông Bung 2, 4, Sông Giằng, Dak Mi, Sông Kôn2, Sông Tranh2..đã, đang góp phần cung cấp điện cho nhu cầu ngày càng tăng của Quảng Nam và của Khu vực.

  1. Hệ thống cung cấp nước sạch:

– Nguồn nước:

+ Nước sông: Hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn là 2 nguồn cung cấp nước cho các nhà máy nước. Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm. Lưu lượng dòng chảy trung bình năm của sông Vu Gia. Tuy nhiên do tác động bởi thủy triều, hệ thống sông Vu Gia-Thu Bồn đang bị nhiễm mặn ở khu vực hạ lưu.

+ Hồ nước: Hồ chứa nước có vai trò rất quan trọng trong việ cấp nước cho tỉnh Quảng Nam. Số lượng hồ chứa có dung tích lớn hơn 1 triệu m3 là 29 hồ. Hồ chứa nước Phú Ninh có vai trò đặc biệt quan trọng cung cấp nước cho các nhu cầu sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp cho khu vực phía Nam của Tỉnh

+ Nước ngầm: Nhìn chung trữ lượng nước ngầm vào loại nghèo nên chỉ khai thác để phục sinh hoạt cho các hộ dân cư có quy mô nhỏ.

-Hệ thống cấp nước: Có 3 hệ thống cấp nước chính đó là: Cấp nước đô thị; cấp nước nông thôn và cấp nước cho các khu công nghiệp, khu kinh tế. Hệ thống cấp nước đô thị cung cấp nước sạch cho dân cư đô thị, công nghiệp tại các thành phố, thị xã, thị trấn và một số khu dân cư liền kề đô thị. Hệ thống cấp nước nông thôn chủ yếu cung cấp nước cho dân cư nông thôn và các khu vực vùng sâu, xa. Cấp nước khu công nghiệp/khu kinh tế từ một số hệ thống cấp nước do Ban quản lý các khu công nghiệp hoặc nhà đầu tư tự đầu tư và quản lý. Tổng công suất thiết kế cấp nước đô thị đạt khoảng 86.350m3/ngđ. Cấp nước nông thôn có 451 hệ thống với công suất thiết kế từ 20m3 đến 800m3 trong đó chỉ có khoảng 17% hoạt động bền vững, 42% hoạt động kém hiệu quả. Cấp nước công nghiệp có công suất khoảng 7800m3/ngđ.

  1. Thoát nước và xử lý nước thải

– Thoát nước mưa:  Do biến đổi thời tiết bất thường, các trận mưa lớn diễn ra thường xuyên hơn, cường độ lớn hơn, thời gian mưa dài hơn trong thời gian qua hiện tượng lũ ống, lũ quét trên các sông suối nhỏ; ngập úng tại vùng thấp trũng thấp, ngập úng cục bộ tại TP Tam Kỳ, TP Hội An và thị xã Điện Bàn, thị trấn Nam Phước, thị trấn Hà Lam, thị trấn Núi Thành. Nhiều hệ thống thoát nước của các đô thị còn bất cập, chưa được đầu tư đồng bộ, trận mưa lớn kỷ lục bất thường vào tháng 12/2018 kết hợp với thủy triều dâng cao đạt đỉnh đã khiến TP.Tam Kỳ bị ngập lụt dài ngày.

– Nước thải sinh hoạt: Hệ thống thoát nước của các đô thị trong tỉnh là hệ thống thoát nước chung (nước mưa và nước bẩn). Hiện nay TP. Tam Kỳ đã đầu tư hệ thống thoát nước bẩn với trạm xử lý CS 8000m3/ngđ vốn WB; Hội An có trạm xử lý CS 6750m3/ngđ vốn Pháp và trạm xử lý nước thải công suất 2.000 m3/ngày/đêm vốn Nhật Bản. Khu vực ngoại thị và nông thôn chưa có hệ thống thoát nước, nước thải được xả thẳng ra môi trường tự nhiên, thoát ra sông hồ theo các kênh mương hở và vết tụ thủy.

– Nước thải công nghiệp: 2/6 khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung hoạt động. Hệ thống thoát nước thải của hầu hết các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa được đầu tư đồng bộ, một số cụm công nghiệp chưa có hệ thống thoát nước riêng. Các cụm công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Một số xí nghiệp công nghiệp đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ nhưng do không được quản lý và vận hành tốt nên hiệu quả sau khi xử lý không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường.

  1. Quản lý chất thải rắn thông thường

Những năm qua, nền kinh tế của tỉnh Quảng Nam có sự tăng trưởng rất nhanh và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, mặt trái của việc phát triển kinh tế với tốc độ nhanh cũng đã làm phát sinh ngày càng lớn lượng chất thải, sự nguy hại về tính chất của các loại chất thải, trong đó có cả các chất thải rắn.

Theo các số liệu thống kê của tỉnh Quảng Nam, hiện mỗi ngày địa phương này có lượng chất thải rắn phát sinh (CTRSH) là hơn 1.120 tấn nhưng năng lực thu gom, xử lý chỉ khoảng hơn 600 tấn/ngày (chiếm hơn 50%). Trong đó, khu vực nông thôn và miền núi tỷ lệ thu gom, vận chuyển chỉ đạt 35 – 42%. Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt của tỉnh Quảng Nam hàng năm không ngừng tăng lên. Việc xử lý rác thải sinh hoạt hiện nay của tỉnh Quảng Nam hiện nay vẫn chủ yếu bằng hình thức chôn lấp. Trong số 20 bãi rác đang hoạt động chỉ có 6 bãi rác chôn lấp hợp vệ sinh, gồm: bãi rác Tam Xuân 2, Tam Nghĩa (Núi Thành), Đại Hiệp (Đại Lộc) và 3 bãi chôn lấp ở xã Ba (Đông Giang), Đông Phú (Quế Sơn) và Trà Sơn (Bắc Trà My); 14 bãi rác thủ công còn lại với quy mô diện tích dưới 0,5ha.

Hiện cả tỉnh Quảng Nam chỉ có một nhà máy sản xuất phân compost xử lý rác sinh hoạt tại phường Cẩm Hà (TP. Hội An) với công suất thiết kế 55 tấn/ngày. Một vấn đề bất cập lớn trong xử lý CTRSH tại các vùng nông thôn của Quảng Nam hiện nay là chưa phân loại rác thải tại nguồn một cách triệt để, gây khó khăn lớn trong công tác xử lý CTRSH.

  1. Quản lý nghĩa trang:

Trên toàn tỉnh hiện có gần 340 nghĩa trang tập trung được xác định cụ thể và hàng ngàn nghĩa trang nằm rải rác với diện tích khoảng trên 5200ha. Ngoài số lượng nghĩa trang lớn thì tại đại đa số các xã rất nhiều ngôi mộ xây dựng rải rác đơn lẻ giữa cánh đồng gây trở ngại lớn cho việc cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp. Đối với các huyện miền núi rất nhiều ngôi mộ xây dựng rải rác đơn lẻ và tự phát giữa các khu rừng gây lãng phí đất và mất mỹ quan. Nhiều nghĩa trang nằm sát khu dân cư, gần nguồn nước sinh hoạt đã và đang gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của nhân dân. Do chưa có quy hoạch nên việc xây cất các phần mộ tùy tiện và việc chọn hướng mộ của mỗi gia đình, dòng họ khác nhau nên các ngôi mộ xây dựng không theo hàng lối, ngôi cao ngôi thấp, nhô ra thụt vào rất lộn xộn.  Nhiều gia đình dòng họ xây cất phần mộ quy mô quá lớn với nhiều kiểu dáng khác nhau gây tốn kém tiền của, lãng phí đất đai, tạo ra sự đua tranh không lành mạnh trong nhân dân.

III. Những thách thức đến xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật tỉnh Quảng Nam.

  1. Tốc độ đô thị hóa và phát triển đô thị còn chậm so với cả nước

Tính đến ngày 1/4/2019, dân số Quảng Nam là 1 495 812 người, với mật độ dân số trung bình là 149 người/km², đây cũng là tỉnh đông dân thứ 3 vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Dân cư phân bố trù mật ở dải đồng bằng ven biển, dọc quốc lộ 1, đồng bằng Vu Gia Thu Bồn và Tam Kỳ. Mật độ dân số của Tam Kỳ, Hội An và Điện Bàn vượt quá 1,000 người/km² trong khi rất thưa thớt ở các huyện miền núi phía Tây. Mật độ dân số trung bình của 6 huyện miền núi gồm Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Bắc Trà My và Nam Trà My là dưới 30 người/km². Với 69% dân số sinh sống ở nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệ dân số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của cả nước. Tuy nhiên quá trình đô thị hóa của tỉnh đang diễn ra mạnh mẽ sẽ tác động lớn đến sự phân bố dân cư nông thôn-thành thị trong thời gian tới.

  1. Tác động khó lường của biến đổi khí hậu :

Tác động của biến đổi khí hậu ngày càng tăng, thời tiết cực đoan và dự báo khó lường. Biến đổi khí hậu đã, đang và tiếp tục xóa đi những thành quả của nhiều năm phát triển. Sự mở rộng các đô thị, nạn phá rừng đầu nguồn, xây dựng các cơ sở hạ tầng dầy đặc và bê tông hóa bề mặt đã góp phần không nhỏ làm tăng ngập úng tại các đô thị và Quảng Nam không phải là ngoại lệ. Tại Quảng Nam trong những năm qua đặc biệt trận Đại hồng thủy năm 2013 (đây là trận lũ lớn nhất trong 10 năm qua) đã làm ngập hầu hết các huyện đồng bằng và trung du, các huyện miền núi bị sạt lở nghiêm trọng. Hàng ngàn hộ dân phải sơ tán, lũ lụt, bão lũ đã tàn phá nhiều cơ sở hạ tầng kỹ thuật, uy hiếp các hồ chứa nước trong đó hầu hết các tuyến giao thông huyết mạch như tuyến đường Hồ Chí Minh bị sạt lở, quốc lộ 1A bị ngập lũ, gây ách tắc giao thông làm nhiều địa phương trong tỉnh bị cô lập. Năm 2016 có hai đợt mưa lũ kéo dài từ ngày 28-11 đến 17-12 đã gây thiệt hại lớn về người và ngành nông nghiệp nhiều tuyến quốc lộ bị sạt lở với tổng khối lượng sạt lở, bồi lấp . Năm 2018, ngày 9/12 đến 13h ngày 12/12, Quảng Nam xuất hiện mưa lớn kỷ lục. Tại Câu Lâu là 1.014 mm; Tam Kỳ 944 mm; Hội An 770 mm; Giao Thúy 603 mm; Ái Nghĩa 534 mm; Tiên Phước 259 mm…Đợt mưa lũ lớn này gây tổn thất lớn cho các huyện Phú Ninh, Thăng Bình và TP Tam Kỳ.

  1. Kết nối giao thông và tổ chức vận tải còn nhiều hạn chế

– Kết nối giao thông:

+ Kết nối nội vùng được bảo đảm thông qua hệ thống giao thông đường bộ từ quốc lộ đến đường tỉnh, đường giao thông nông thôn và giao thông đô thị. Tuy nhiên chất lượng kết nối còn hạn chế do chất lượng quốc lộ, đường tỉnh còn thấp, nhiều cầu yếu.

+ Kết nối liên tỉnh cũng đã đảm bảo cả 2 hướng Bắc Nam và Đông Tây thông qua hệ thống đường bộ (trục dọc, trục ngang), đường hàng không, đường sắt và đường biển. Tuy nhiên năng lực vận tải đường sắt còn thấp, đường bộ qua QL1A hẹp, năng lực thông qua hạn chế, đường Hồ chí Minh hay bị sạt lở về mùa mưa.

+ Kết nối với các đầu mối vận tải: Kết nối giữa đường sắt với cảng biển, sân bay, các khu kinh tế, khu công nghiệp còn nhiều hạn chế làm giảm khả năng khai thác tối đa của các cảng, nhà ga và khu kinh tế.

Tổ chức vận tải: Do kết nối giao thông còn hạn chế nên tổ chức vận tải chủ yếu dạng đơn phương thức, chưa hình thành được chuỗi dịch vụ logictics.

  1. An toàn nguồn nước và ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng:

Hệ thống sông của Quảng Nam có mật độ khá cao tuy nhiên có đặc điểm là lưu vực và lòng sông có độ dốc lớn, thời gian mưa ngắn, mùa khô dài nguy cơ thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất, hạn hán và lũ lụt vào mùa mưa. Do tác động của BĐKH vùng hạ lưu dễ bị nhiễm mặn. Việc xây dựng nhiều nhà máy, xí nghiệp với các quy mô khác nhau dẫn đến nhu cầu về nước tăng cao; việc xả nước thải sản xuất từ các nhà máy, khu chế xuất khu công nghiệp chưa được xử lý vào sông rạch, ao hồ gây ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất, chất thải rắn chưa được quản lý tốt đặc biệt chất thải ở khu vực nông thôn là những nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe người dân.

  1. Một số đề xuất về xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
  2. Tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình phát triển đô thị tỉnh Quảng Nam giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Quyết định số 1367/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của UBND tỉnh Quảng Nam)

Về phát triển mạng đô thị : Phát triển các cụm đô thị trong vùng Đông tỉnh Quảng Nam trên cơ sở phát triển chuỗi các đô thị dọc tuyến Quốc lộ 1A gắn với các đô thị vùng ven biển và Khu kinh tế mở Chu Lai; phát triển 03 đô thị trung tâm vùng phía Tây của tỉnh, với các định hướng được xác định: Thạnh Mỹ là trung tâm cụm Tây Bắc, Khâm Đức là trung tâm cụm Trung Tây, Trà My là trung tâm cụm Tây Nam. Theo dự báo đến năm 2020 Quảng Nam có 20 đô thị gồm 2 đô thị loại II, 1 đô thị loại 3, 6 đô thị loại IV và 11 đô thị loại V. Đến năm 2030 dự kiến có 28 đô thị.

Về phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: Hình thành Khu công nghiệp Đại Tân; hoàn chỉnh phát triển chuỗi các cụm công nghiệp dọc theo Quốc lộ 14B; mở rộng Khu công nghiệp Đông Quế Sơn; hình thành mới một khu công nghiệp trên tuyến Quốc lộ 14E thuộc địa bàn huyện Thăng Bình, Hiệp Đức; phát triển các Khu công nghiệp trong Khu kinh tế mở Chu Lai như: Khu Công nghiệp Tam Thăng, Khu Công nghiệp cơ khí đa dụng và ô tô tập trung Chu Lai. Tập trung phát triển một số cụm công nghiệp dọc các Quốc lộ, Tỉnh lộ kết nối giữa các vùng, các đô thị với khu vực nông thôn. Đồng thời xây dựng và phát triển các làng nghề.

Về phát triển du lịch: Tiếp tục phát triển khu vực du lịch ven biển Điện Bàn – Hội An; từng bước hình thành vùng du lịch ven biển thuộc các huyện Duy Xuyên – Thăng Bình; gắn kết với khu vực di tích Mỹ Sơn, vùng ven sông Thu Bồn; phát triển du lịch khu vực phía Đông Tam Kỳ, Núi Thành gắn kết với khu vực hồ Phú Ninh, các khu du lịch, khu di tích lịch sử phía Tây Nam của tỉnh.

Về phát triển thương mại – dịch vụ tại các khu vực: Khu Kinh tế cửa khẩu; Hội An, Điện Bàn, Ái Nghĩa; Nam Phước, Hà Lam; Tam Kỳ, Núi Thành.

  1. Các giải pháp về xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật

Kết cấu hạ tầng kỹ thuật có vai trò rất to lớn đến phát triển kinh tế, xã hội nói chung mà còn thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển hệ thống đô thị nói riêng. Phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ sẽ góp phần phát triển kinh tế bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh, năng suất lao động, thu hút các nguồn vốn đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền đặc biệt góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Trên cơ sở phân tích thực trạng (thuận lợi và thách thức) các chiến lược, định hướng, quy hoạch và chương trình phát triển đô thị…. Đề xuất một số giải pháp như sau:

  1. Liên kết về giao thông:

Hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ trong tỉnh và khớp nối với hệ thống giao thông đường bộ quốc gia.

  • Liên kết ngoại vùng: Hoàn thiện tuyến đường ven biển Việt Nam, nâng cấp Quốc lộ 1A, cải tạo, nâng cao năng lực của đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi đoạn qua tỉnh, xây dựng tuyến đường Đông Trường Sơn. Phát triển CHK Chu Lai thành cảng hàng không quốc tế với vai trò là trung tâm trung chuyển hàng hóa hàng không; Xây dựng, nâng cấp Cảng Kỳ Hà ( bến cảng Kỳ Hà: tiếp nhận tàu tải trọng từ 7000T đến 20.000T, bến cảng Tân Hiệp tiếp nhận tàu từ 10.000T đến 20.000T); Cải tạo, nâng cấp tuyến đường sắt Bắc Nam, xây dựng tuyến nhánh nối đường sắt quốc gia với Khu kinh tế Chu Lai và cảng biển Kỳ Hà..
  • Liên kết nội vùng: Nâng cấp, mở rộng và hoàn chỉnh tuyến đối với các Quốc lộ, Tỉnh lộ có điểm đấu nối với đường cao tốc, bao gồm ĐT618, QL40B, QL14E, ĐT609. Nâng cấp QL14D; xây dựng cầu Giao Thủy; nâng cấp các tuyến ĐT: 603, 607, 608, 609, 611, 615, 616, 617; hình thành các tuyến liên kết các đô thị tại các cụm động lực số 1, số 3; nâng cấp, hoàn thiện hệ thống giao thông kết nối trong vùng Đông.
  • Quy hoạch phát triển giao thông tại các đô thị phù hợp với không gian kiến trúc đô thị, thống nhất, đồng bộ, liên hoàn liên kết với mạng lưới giao thông vùng, quốc gia..
  1. Bảo vệ nguồn nước, chủ động phòng ngừa tác động của biến đổi khí hậu và phòng chống rủi ro môi trường:

Bảo vệ nguồn nước là một yêu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Nâng cao hiệu quả hoạt động của ban quản lý tổng hợp lưu vực sông (Vu Gia – Thu Bồn); lập quy hoạch tài nguyên nước; lập danh mục hành lang bảo vệ nguồn nước trên địa bàn tỉnh; tiến hành cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước theo danh mục; xây dựng bản đồ ngập úng cho các đô thị; xác định các vùng thấp có khả năng ngập nước do nước biển dâng; không quy hoạch mới hay mở rộng đô thị vào các khu vực có nguy cơ ngập úng; xây dựng chương trình phòng chống rủi ro môi trường nhằm ngăn chặn việc xả nước thải, rác thải, xả chất độc vào nguồn nước. Xây dựng quy trình quản lý, xả nước hồ chứa thủy lợi, thủy điện hợp lý. Tăng cường việc trồng và bảo vệ rừng phòng hộ ở đầu nguồn và ven biển. Tăng cường các biện pháp dự báo và cảnh báo thiên tai để dự báo, cảnh báo được chính xác hơn, kịp thời hơn đến mọi vùng dân cư.

  1. Quy hoạch cấp nước:

Dự báo nhu cầu dùng nước trung bình cho các mục đích sử dụng đến năm 2030 khoảng 551.680m3/ngđ.

Lựa chọn nguồn nước: Ưu tiên sử dụng nguồn nước mặt đặc biệt nguồn nước mặt có trữ lượng và chất lượng ổn định như các hồ Phú Ninh, Thái Xuân….. các sông lớn như sông Vu Gia, Thu Bồn..và các sông, suối có trữ lượng, chất lượng tốt gần các đối tượng tiêu thụ nước tại các huyện thuộc vùng Tây của tỉnh. Chủ động bảo vệ nguồn nước – Lắp đặt hệ thống quan trắc tự động nguồn nước mặt tại các nhà máy nước; Cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước được giao…

Trên cơ sở nhu cầu, nguồn nước và phân bố hệ thống đô thị, khu dân cư trên địa bàn dự kiến xây dựng, cải tạo, nâng cấp một số nhà máy nước: Hội an, Vĩnh Điện, Ái Nghĩa, Trảng Nhật.. (vùng I: Hội An – Điện Bàn); Cù Bàn, Đông Phú, Thăng Bình (vùng II: Duy Xuyên – Quế sơn-Thăng Bình); Tam kỳ, Phú Ninh, Tâm Hiệp..(vùng III: Tam kỳ-Núi Thành)…

  1. Quy hoạch thoát nước và xử lý nước thải:

Quy hoạch thoát nước dựa trên cơ sở quản lý toàn diện lưu vực sông, suối, kênh và hồ nhằm đảm bảo tính bền vững và ổn định lâu dài về môi trường nước. Các sông, kênh đi qua các khu vực đô thị cần được kè hai bên bờ để hạn chế xói lở vào mùa mưa lũ, tạo cảnh quan cho đô thị và dễ dàng cho việc quản lý.

Mô hình xây dựng hệ thống thu gom nước thải:

  • Đối với các khu đô thị cũ: Do cơ sở hạ tầng đã ổn định sẽ sử dụng cống chung. Các công trình công cộng xử lý sơ bộ bằng bể tự hoại hợp quy chuẩn sau đó xả r đường cống chung. Nước thải sẽ được thu gom qua các giếng tách và dẫn về trạm xử lý nước thải qua cống bao.
  • Đối với đô thị mới sẽ áp dụng hệ thống cống riêng

Phân vùng thoát nước và xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các nhà máy xử lý nước thải bao gồm: Phân vùng như vùng cấp nước: Vùng I: Nhà máy XLNT Hội an; Đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc, Đô thị Vĩnh Điện, Ái Nghĩa, ..; Vùng II: Nhà máy Nam Phước, Duy Nghĩa, Đông Phú, Hà Lam…; Vùng III: Nhà máy xử lý nước thải Tam Kỳ, Núi Thành…

Đề xuất áp dụng giải pháp thoát nước bền vững (SUDS) để quy hoạch về tiêu thoát lũ vùng lưu vực sông.

  1. Quy hoạch quản lý CTR trên địa bàn tỉnh:

Quy hoạch quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Quảng nam phải phù hợp với “Điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR “thực hiện liên ngành, địa phương; đảm bảo tối ưu về kinh tế, kỹ thuật, an toàn về môi trường, xã hội; gắn với quy hoạch phát triển KT-XH và quy hoạch ngành của tỉnh.

Quy hoạch phải đồng bộ hệ thống quản lý tổng hợp đối với CTR trên toàn tỉnh, theo đó CTR được phân loại tại nguồn, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý triệt để bằng công nghệ tiên tiến và phù hợp, hạn chế tối đa lượng chất thải chôn lấp nhằm tiết kiệm tài nguyên đất đai và hạn chế gây ô nhiễm môi trường, quản lý và xử lý chất thải nguy hại theo các phương thức phù hợp.

  1. Quy hoạch hệ thống nghĩa trang trên địa bàn tỉnh:

Nghĩa trang mới phải được quy hoạch. Khuyến khích quy hoạch các nghĩa trang tập trung phục vụ cho nhiều địa phương khác nhau và các nghĩa trang có sử dụng hình thức an táng mới văn minh, hiện đại nhằm tiết kiệm đất, kinh phí xây dựng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Vị trí, quy mô các nghĩa trang phải đảm bảo phù hợp với nhu cầu của từng khu vực lập quy hoạch và phải được phân cấp theo quy định. Có kế hoạch sớm di chuyển các mộ lẻ nằm rải rác giữa cánh đồng và gần khu dân cư về nghĩa trang tập trung.

Kết luận: Kết cấu hạ tầng kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong phát triển kĩnh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, an ninh, quốc phòng, góp phần xóa đói, giảm nghèo và phát triển đô thị. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật vùng đặc biệt hạ tầng khung là cơ sở, là tiền đề phát triển không gian vùng. Bên cạnh các lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường thì việc từng bước hoàn thiện xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn góp phần thúc đẩy phát triển kinh té, xã hội tỉnh Quảng Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Quyết định số 1367/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt “Chương trình phát triển đô thị tỉnh Quảng Nam giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”
  2. Quyết định số 154/QĐ-UBND ngày 12/1/2011 của UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt “ Quy hoạch quản lý CTR tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2020”
  3. Bộ Giao thông Vận tải (2014): Điều chỉnh Quy hoạch phát triển mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
  4. Quyết định số 2054/QĐ-TTg ngày 23/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển giao thông vận tải vùng kinh tế trọng điểm miền trung đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
  5. UBND tỉnh Quảng Nam (2016), Quy hoạch Cấp Thoát nước vùng tỉnh Quảng Nam giai đoạn đến năm 2030.
  6. Sở Xây dựng tỉnh Quảng Nam: Quy hoạch mạng lưới Nghĩa trang nhân dân trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đến năm 2020 định hướng đến năm 2030
  7. Một số thông tin trên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng và khá
  1. Quy hoạch hệ thống nghĩa trang trên địa bàn tỉnh:

Nghĩa trang mới phải được quy hoạch. Khuyến khích quy hoạch các nghĩa trang tập trung phục vụ cho nhiều địa phương khác nhau và các nghĩa trang có sử dụng hình thức an táng mới văn minh, hiện đại nhằm tiết kiệm đất, kinh phí xây dựng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Vị trí, quy mô các nghĩa trang phải đảm bảo phù hợp với nhu cầu của từng khu vực lập quy hoạch và phải được phân cấp theo quy định. Có kế hoạch sớm di chuyển các mộ lẻ nằm rải rác giữa cánh đồng và gần khu dân cư về nghĩa trang tập trung.

Kết luận: Kết cấu hạ tầng kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong phát triển kĩnh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, an ninh, quốc phòng, góp phần xóa đói, giảm nghèo và phát triển đô thị. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật vùng đặc biệt hạ tầng khung là cơ sở, là tiền đề phát triển không gian vùng. Bên cạnh các lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường thì việc từng bước hoàn thiện xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn góp phần thúc đẩy phát triển kinh té, xã hội tỉnh Quảng Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Quyết định số 1367/QĐ-UBND ngày 17/4/2015 của UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt “Chương trình phát triển đô thị tỉnh Quảng Nam giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”
  2. Quyết định số 154/QĐ-UBND ngày 12/1/2011 của UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt “ Quy hoạch quản lý CTR tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2020”
  3. Bộ Giao thông Vận tải (2014): Điều chỉnh Quy hoạch phát triển mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
  4. Quyết định số 2054/QĐ-TTg ngày 23/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển giao thông vận tải vùng kinh tế trọng điểm miền trung đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
  5. UBND tỉnh Quảng Nam (2016), Quy hoạch Cấp Thoát nước vùng tỉnh Quảng Nam giai đoạn đến năm 2030.
  6. Sở Xây dựng tỉnh Quảng Nam: Quy hoạch mạng lưới Nghĩa trang nhân dân trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đến năm 2020 định hướng đến năm 2030
  7. Một số thông tin trên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng và khác.

 

 

 

 

 

Check Also

Doan Chu tich và Doan thu ky

Khai mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ 22, nhiệm kỳ 2020-2025

 Sáng 21/10, Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ 22, …