Home / QUY HOẠCH - KIẾN TRÚC - XÂY DỰNG / XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ TẤT YẾU CỦA SỰ PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ TẤT YẾU CỦA SỰ PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG CỘNG ĐÔ THỊ TẤT YẾU CỦA SỰ PHÁT TRIỂN

  1. Đô thị – cao trào của trào lưu cư trú thế kỷ XXI

Đầu năm 2011 Ngân hàng Thế giới (WB), Liên minh các thành phố và Viện Lincoln về chính sách đất đai của Mỹ đã ra một nghiên cứu chung kêu gọi thế giới xây dựng các chiến lược mới để sẳn sàng cho sự phát triển bùng nổ của các đô thị trên toàn cầu. Nghiên cứu trên nhấn mạnh đô thị hóa đã trở thành hiện tượng bùng nổ của thế kỷ XXI. Và  tác động của tình trạng đô thị hóa nhanh chóng được cảm nhận rõ rệt nhất là ở các nước đang phát triển, nơi diện tích xây dựng đô thị dự kiến tăng gấp 3 lần, và dân số đô thị sẽ tăng gấp 2 lần vào năm 2030. Nhìn nhận này phù hợp với dự báo của Liên hiệp quốc (công bố năm 2010) dân số thế giới sẽ tăng từ 6,7 tỷ hiện nay lên 9,2 tỷ vào năm 2050 với 59% nhân loại sống tại các đô thị trước năm 2030. Còn tại thời điểm này, một nghiên cứu của UN – Habitat (LHQ) cho biết mỗi năm dân số đô thị tăng thêm chừng 67 triệu người, và 91% trong đó được cộng thêm vào dân số các thành phố tại các quốc gia đang phát triển. Đối mặt với những hậu quả khó tránh khỏi và rất nặng nề do dân số đô thị tăng quá nhanh, một phái viên khoa học và môi trường của BBC News (Mark Kinver) cho rằng: ‘Đô thị thế giới (sẽ) thành chiến địa” (BBC ngày 29.3.2011).

1 (50)_optNếu “Đô thị thế giới thành chiến địa”,thì các đô thị đới nóng tại các nước đang phát triển (ở châu Á, châu Phi, Nam Mỹ) sẽ là những chiến địa đầu tiên do các nguyên nhân “kinh điển”: dân số quá đông, thiên tai, xung đột, nghèo đói… Ngân hàng Thế giới (WB), Liên minh các thành phố và Viện Lincoln về chính sách đất đai của Mỹ cũng cho rằng các nước đang phát triển có mật độ dân số tiếp tục đông nhất, gấp đôi so với châu Âu và Nhật Bản trong tương lai ngắn hạn. Một tài liệu khác còn dự đoán dân số đô thị đới nóng sẽ gấp 2 lần dân số đô thị thuộc đới ôn hòa vào năm 2020. Dẫn ra một số nhận định, chúng ta cùng thống nhất rằng nhân loại đang tiến vào cao trào dòng thác chuyển cư vào đô thị, xu thế định cư ấy là không thể đảo ngược, là một đặc trưng phân bố dân cư ở thế kỷ XXI.

  1. Đô thị Việt Nam – Khó khăn kép

– Khó khăn thứ nhất: Như vậy tốc độ đô thị hóa cao đang xảy ra ở Việt Nam cũng trong trào lưu dẫn tới đô thị của thế giới nói chung, và do nằm trong đới nóng, cuộc đô thị hóa đó chắc chắn phải chịu thêm những áp lực tiêu cực nặng nề, sâu sắc hơn. Vì thế, quốc gia chúng ta có thể là một trong vài ví dụ điển hình về tình trạng đô thị hóa thiếu kiểm soát, dân số chẳng hạn – theo kết quả điều tra dân số năm 2009 (ngày 1 tháng 4) trong gần 86 triệu,  dân số đô thị đã chiếm gần 30% (29,6%), trong 10 năm từ 1999 – 2009 dân số đô thị tăng bình quân tới 3,4%/năm trong khi nông thôn chỉ 0,4% /năm. Từ 1999 – 2009 đã tăng thêm 9,47 triệu người, tức là mỗi năm tăng thêm xấp xỉ 1 triệu người. Tốc độ tăng xây dựng đô thị cũng rất cao, năm 1998 có 635 đô thị, sau 10 năm (đến 2009) đã có 754 đô thị. Như vậy bình quân mỗi tháng có 1 đô thị mới được ra đời.

Với dân số đô thị tăng trên 1 triệu người hàng năm thì trách nhiệm cung cấp nhà ở, cơ sở hạ tầng, trường học và các dịch vụ công cho số dân cư mới này sẽ vô cùng nặng nề. Những nguy cơ này được báo chí báo động thường xuyên, bao gồm tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường vì khói bụi, tiếng ồn, ngập nước, thiếu phòng học, vệ sinh an toàn thực phẩm kém, bệnh viện quá tải, phòng cháy chữa cháy bất cập… Đương nhiên những khó khăn ấy không vừa xảy ra mà đã tích lũy qua quá trình dài do sự thiếu thốn lẫn yếu kém, và điều đáng nói là trong khi chưa có khả năng giải quyết chúng thì những khối lượng khó khăn mới to lớn hơn nhiều lại đến, cũng đòi hỏi phải nhanh chóng giải quyết.

Những hệ lụy của tình trạng đô thị hóa quá nhanh chỉ điểm qua là để nhằm đề cập đến một vấn đề trọng tâm là: Đứng trước những thách thức vô cùng lớn do đô thị hóa ồ ạt, chúng ta sẽ sử dụng các mô hình cung ứng dịch vụ công cộng nào có khả năng đáp ứng nhu cầu của lượng dân cư đô thị không ngừng tăng và đang tăng rất nhanh?

– Khó khăn thứ hai: Sở dĩ nói đô thị Việt Nam sẽ chịu khó khăn kép, do một mặt nó phải chịu tất cả những khó khăn của những quốc gia đới nóng đang phát triển bước vào thời kỳ đô thị hóa – mặt khác còn phải vượt qua trở ngại tự thân của một nước có nền dịch vụ công cộng chủ yếu là do nhà nước đảm nhiệm (bao cấp hoàn toàn), sang nền dịch vụ công cộng với sự cung ứng của nhiều thành phần kinh tế (thị trường). Đây có lẽ là khó khăn, thách thức lớn nhất mà chính quyền các đô thị Việt Nam, đặc biệt là các đô thị lớn phải đối mặt. Còn nói đó là khó khăn lớn nhất, do các mô hình cung ứng dịch vụ công cộng thời nhà nước bao cấp đã gần như cáo chung, nhưng nhà nước lại không thể bỏ mặc hay trao hoàn toàn sự cung ứng công cộng cho tư nhân (thị trường) cung cấp, bởi các hoạt động này luôn luôn thuộc nghĩa vụ của nhà nước đối với nhân dân. Nói cách khác, nó thuộc phạm  trù kinh tế thể chế, đòi hỏi nhà nước khẳng định vai trò, các nhiệm vụ cụ thể, các quan điểm đúng đắn của mình trong việc tìm kiếm áp dụng các mô hình cung cấp dịch vụ công cộng trên thế giới, hay dựng mô hình cho riêng nó…

  • Đi tới sự chủ động

Tại nhiều nước, dù chính phủ đã thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân vào đầu tư dịch vụ công cộng đô thị từ hơn nữa thế kỷ qua, nhưng đến nay họ vẫn tiếp tục giải quyết các mối quan hệ quyền lợi, như : vừa phải đảm bảo lợi nhuận cho nhà kinh doanh, vừa đạt được sự đồng thuận của cộng đồng người tiêu dùng dịch vụ, đặc biệt là người nghèo đô thị; hoặc phải đối mặt với những khó khăn tài chính do dịch vụ công cộng thường là lĩnh vực đầu tư thời gian hoàn vốn dài; và do sự phức tạp của bản thân các mối quan hệ rất dễ dẫn tới các khó khăn của trong quản lý rủi ro. Dĩ nhiên “Trên thế giới hiện nay không tồn tại thể chế kinh tế không gắn với thị trường. Tuy nhiên, mức độ thị trường hóa của hệ thống thể chế kinh tế trên thế giới cũng khác nhau và nội dung, phạm vi, cách thức sử dụng chính sách trong hệ thống thể chế đó cũng khác nhau.” (dẫn theo Nguyễn Ngọc Hiếu – Học viện Hành chính) cho nên trong lĩnh vực đầu tư công tác chính phủ cũng không ứng xử hoàn toàn giống nhau.

Ở Việt Nam, Luật đầu tư  nước ngoài năm 1987 bắt đầu nêu ra các dạng Hợp đồng BOT, BTO, BT mà chưa phải các nhà đầu tư trong nước, theo TS. Phạm Sỹ Liêm là “vì khi ấy khu vực doanh nghiệp tư nhân của ta còn yếu ớt”. Đến văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X (2006) mới nêu “khuyến khích tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng” (tr.199). Và phải đến quyết định số 71/2010 (tháng 11 năm 2010) của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư trong đó có các lĩnh vực cung ứng nước sạch, xử lý chất thải… Tất nhiên không đợi đến năm ngoái các hợp đồng đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật đô thị theo hình thức đối tác công – tư mới được triển khai, mà từ nhiều năm qua hình thức đầu tư này đã được thực hiện tại nhiều địa phương trên cả nước. Thí dụ, từ năm 2000 đến 2003 đã có ít nhất 10 nhà máy nước và hệ thống cung cấp nước sạch đã được xây dựng, vận hành theo phương thức PPP tại 7 tỉnh (riêng Bắc Ninh có 3 dự án); có 9 dự án PPP xử lý rác, vận chuyển rác, thoát nước, môi trường và cây xanh đô thị tại 9 tỉnh, thành phố…

Thực tế này cho thấy:

  • Yêu cầu xã hội hóa lĩnh vực hạ tầng đô thị theo hình thức đối tác công – tư là rất cao, đến mức chưa cần những hướng dẫn hay quy chế cụ thể mới hành động.
  • Khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam đã lớn mạnh có thể đủ lực tham gia với chính quyền đô thị cung ứng các loại dịch vụ này.

Do chưa có hệ thống lý luận đầy đủ về mô hình PPP và các tổ hợp của nó (như nhầm lẫn giữa đối tác công – tư với tư nhân hóa, các yêu cầu dự báo rủi ro, chia sẽ rủi ro, hay chỉ chú trọng gọi mời đầu tư cơ sở hạ tầng mà bỏ qua mảng đầu tư quan trọng vào vận hành, quản trị các cơ sở hạ tầng đô thị, do quán tính của nền kinh tế bao cấp vẫn muốn duy trì vị trí độc tôn của doanh nghiệp nhà nước nên hạn chế sự tham gia của khu vực tư nhân…) nên chắc chắn đã phát sinh những mâu thuẫn không tránh khỏi giữa các chính quyền cơ sở với các bên tham gia.

Tóm lại, có thể các chính quyền đô thị đã từng tự phát mở đường cho khu vực tư nhân đầu tư, (nếu vậy) đã đến lúc cần tạo mọi điều kiện để lực lượng kinh tế đó, cùng các bên khác chủ động tham gia cung ứng dịch vụ công cộng.

Chúng tôi nhận thức rằng 3 hiện tượng nêu trên là tất yếu trong quá trình tìm kiếm các nguồn lực đầu tư công, tìm các mô hình cung ứng dịch vụ hạ tầng đô thị. Nó cũng tất yếu như chắc chắn phải xã hội hóa lĩnh vực này mạnh mẽ vì sự phát triển về cả quy mô và chất lượng các đô thị Việt Nam, mà việc thực hiện nghiêm túc, có trách nhiệm của nhóm nghiên cứu đề tài khoa học: “cơ sở khoa học xây dựng mô hình xã hội hóa dịch vụ công cộng” do TS. Phạm sỹ Liêm lãnh đạo là một đóng góp cụ thể./.

                                                                                                      Trần Trung Chính*

                                                                                                         Số 35-36 ĐT&PT

Check Also

1_625345

ĐÔ THỊ BIỂN VIỆT NAM – TIẾP CẬN VẤN ĐỀ VÀ SUY NGẪM VỀ ĐƯỜNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN

Việt Nam minh châu trời Đông Việt Nam nước thiêng tiên rồng Non sông như …